Những bài mới nhất

 

Nguồn: Internet

Nguồn: Internet

Những thành phố khó quên? Với tôi sẽ không bao giờ là “Huế, Sài Gòn, Hà Nội” như tên một bài hát thời nội chiến giữa hai chế độ dân chủ tự do và độc tài cộng sản. Cũng sẽ không là một trong bốn thành phố từng được gọi là thắng cảnh du lịch của Việt Nam Cộng Hòa như đã được in thành bộ bốn con tem theo thứ tự: Đà Lạt, Hà Tiên, Huế, Sài Gòn.

Vùng đất khó quên với tôi lại là nơi tôi chưa từng đến. Tôi nhớ như in trong óc một địa danh mà cho đến nay – không còn như hồi nhỏ không biết đường đi, không có tiền đi, và dù đã có thể nếu thích thì không ai cấm – vẫn chưa hề một lần đặt chân. Cái tên ấy cũng đã bị đổi sau ngày miền Nam rơi vào địa ngục. Nhưng với tôi nó là cả một ấn tượng khó phai, một kỷ niệm đủ khiến mình bứt rứt. Cái tên vần bằng nghe hiền hòa, chân chất như tính cách người dân miền Tây Nam bộ. Cái tên khiến người nghe tưởng tượng ra cảnh vườn tược rợp bóng cây trái sum xuê, sông nước, kinh rạch chằng chịt và rất nhiều… cầu khỉ. Thành phố – tỉnh nhỏ thì đúng hơn – hẳn là phải dễ thương lắm vì đã níu bước chân chú tôi ở lại. Chú hẳn đã thấy nơi đây cái không khí tự do phóng khoáng, không tù túng, gò bó chật hẹp đến ngộp thở trong đại gia đình bà nội tôi. Tỉnh nhỏ là nơi chú gặp và kết hôn với người thiếu nữ nông thôn miền Nam dù vấp phải sự chống đối từ phía nhà mình – một gia đình Bắc kỳ di cư Công giáo.

Chiếc xe đi phát quà cây mùa xuân cho chiến sĩ cán phải mìn do VC đắp mô. Viên đại tá phía trước thoát chết trong gang tấc. Người ngồi băng sau nổ tung như viên pháo tết đốt sớm ngày ông Táo về Trời. Là chú đó, người trung úy trẻ măng mới ba mươi tuổi. Tại sao ở một tỉnh có cái tên hiền hòa đến thế, vào một ngày cuối tháng Chạp, trong niềm vui rộn rã chuẩn bị đón xuân, một bối cảnh rất “hòa bình”, lại có chiếc xe jeep nổ tung? Như một định mệnh, cuộc đời vắn vỏi của chú đã gắn chặt với tỉnh nhỏ: cuộc sống binh ngũ, tình yêu và cái chết. Mảnh đất tỉnh nhỏ đã thấm đẫm máu chú đổ ra.

Tỉnh nhỏ hôm ấy có người thiếu phụ tay dắt đứa con gái đầu lòng bốn tuổi theo chuyến xe nhà binh đưa xác chú về nhà bà nội tôi. Tôi lúc ấy nhỏ xíu, còn chưa kịp nhớ mặt thím. Hẳn thím xinh đẹp lắm, ít nhất là trong mắt chú? Thím có bị kỳ thị, có thấy bơ vơ lạc lõng trong đám tang chú? Bên cỗ quan tài kẽm phủ cờ vàng không biết thím đã nghĩ gì? Thím có ai là người thân ngoài đứa con nhỏ, giữa một đám đông xa lạ?

Ít lâu sau cái chết của chú, đứa bé cũng lìa đời vì bạo bệnh. Tin tức báo lên từ miền Tây. Mối liên hệ duy nhất của thím với gia đình chồng cũng đã không còn. Chúng tôi bặt tin thím từ đó. Thời gian giúp người ta sớm nguôi ngoai những chuyện đau lòng. Ai cũng có một cuộc sống riêng để lo toan. Ai cũng đủ bận rộn để ít còn thì giờ nhớ tới nhau. Sau 75 địa danh đó bị xóa trên bản đồ, và cũng mờ đi trong tâm trí chúng tôi. Tuy thế, tôi vẫn ép mình mà nghĩ rằng thím đang còn sống trong tỉnh nhỏ dễ thương. Có thể thím đã đi thêm bước nữa, và đang an vui đầm ấm bên chồng con? Liệu… thím có còn giữ đạo, cái tôn giáo mà ngày xưa thím đã chấp nhận mang lấy khi theo chú?

Tỉnh nhỏ trong tôi vẫn mãi là nỗi ray rứt, ám ảnh khôn nguôi về những con người bạc mệnh, về một gia đình bị xóa sổ bởi chiến tranh, loạn lạc. Một bi kịch như trăm ngàn bi kịch xảy ra hằng ngày, trên mảnh đất miền Nam thống khổ của tôi. Tôi tiếc thương gia đình nhỏ bé của chú như tiếc thương miền Nam của tôi.

Tên vùng đất ấy nay tôi chỉ còn được đọc trên bia mộ chú. Tôi vẫn không có ý định sẽ đi thăm tỉnh nhỏ. Những ban mai tĩnh lặng, những buổi chiều nhạt nắng, tôi thỉnh thoảng ghé nghĩa trang viếng chú và tưởng nhớ đến vùng đất mình chưa từng đặt chân. Thăm chú là đã đủ, để hoài niệm về tỉnh nhỏ khó quên: Chương Thiện.

Phay Văn

 

https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2015/05/06/vung-dat-kho-quen/