Những bài mới nhất

 

Chân thành tri ân những người lính chiến đấu cho tự do của

quê hương Việt Nam

 

Đây là tác phẩm cuối cùng của Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh viết cho Tủ sách Tuổi Hoa trước năm 1975 và sắp được xuất bản vào tháng 4 - 1975 nhưng đã ngưng lại.


Hình bìa do họa sĩ ViVi sau này vẽ tặng Cam Li và Tủ sách Tuổi Hoa online (tuoihoa.hatnang.com) ngày 21 tháng 8 năm 2008.

 

alt

 

 

Chương 1

 

Những bóng tròn hiện ra, màu rực rỡ như những đồng tiền bằng vàng nằm trên một tấm thảm màu xanh lá cây. Bóng nhảy múa trên mặt, chiếu vào mắt. Hình ảnh nào thế? Ánh sáng của thiên đường hay trò chơi của ma quái? Là thực tại hay chỉ là một khúc phim xảy ra trong ký ức? Cảm giác của một con người tưởng đã không còn. Nhưng không phải. Bây giờ rõ ràng tai đang nghe một tiếng chim hót. Chim hót ở trên đầu, trên mặt - ở đâu đó trên tấm thảm màu xanh kia.

A! Đúng rồi! Chim hót trên cây! Những bóng tròn kia là nắng! Ngày đã bắt đầu trước khi ta thức dậy. Đúng hơn là ta tỉnh dậy. Ngày rực rỡ, ngày hiền lành quá! Ta dần dần tìm lại cảm giác. Tai đã nghe rồi! Mắt đã thấy rồi! Nhưng mũi ngửi được mùi máu khô, ở đâu đây, lẫn trong mùi cỏ ướt. Bây giờ thân thể không còn tê dại nữa, mà đang cảm nhận được sự nhức nhối, ở dưới chân, truyền lên đến vai, và thấu tận óc. Dù không ngóc đầu lên được để nhìn xuống thân thể, nhưng ta đã nhớ ra được rằng nơi bắp chân, máu đã chảy rất nhiều và cảm giác đau nhức cũng từ đó mà có. Nhắm mắt lại, bây giờ quên mất tiếng chim, mà nghe âm vang tiếng chong chóng quay lạch cạch trên đầu, tiếng động cơ làm át lời nói chuyện. Mơ màng, ta thấy cả mây trắng, thấy cả cánh đồng, thấy nhánh sông, thấy rừng cây bên dưới. Chính nơi đó, chiếc trực thăng bị trúng nhiều loạt đạn. Một viên đạn đã xuyên qua bắp chân ta. Rồi nhiều loạt đạn nữa… những bạn bè gục xuống. Cái hình ảnh một người đang huyên thuyên cười nói bỗng trở thành một tấm thân bất động, chợt hiện ra rõ ràng và nghiến nát tâm hồn. Từ con chim sắt oan nghiệt đó, các bạn đã về với đất. Thân chim lảo đảo đâm xuống tấm thảm xanh lá cây. Tiếng động nào vang dội cả khu rừng. Tiếng của thần chết? Tiếng của quỷ dữ? Hay tiếng của cha mẹ, anh em, bạn bè, người yêu khóc vùi bên mộ héo?...

Chỉ một mình ta lết ra khỏi chiếc phi cơ đang rừng rực cháy. Không biết ta còn lết được bao xa, chỉ biết là rất xa, rồi ta ngất đi. Trong rừng cây này có phép lạ hay sao? Phép lạ chỉ ban cho một người. Khi thức dậy người trở thành một cái bóng cô đơn. Chiếc phi cơ đã bị cháy rụi. Bạn bè, anh em, còn đâu! Ta lạnh lẽo hơn một bóng ma. Trước mặt là cây, sau lưng là cây. Xung quanh đều là rừng. Tiếng cười nói từ ban trưa vang vọng từ đỉnh trời, vướng trên lá, tỏa đầy trong nắng xế. Ta nhìn xuống chân. Máu bê bết loang lổ hết một ống quần. Cả gương mặt của ta nữa, chắc khủng khiếp lắm? Không còn biết một nhân danh nào để cầu nguyện.

Chiều đổ xuống. Nắng lui dần sau cây lá. Mới tối hôm qua còn đang sửa soạn để lên đường. Giã từ quận nhỏ, nơi có nhiều tấm lòng quý mến. Sáng sớm còn nhận được những củ khoai mới luộc còn bốc khói. Ban trưa còn xoa mấy cái đầu trọc lóc của lũ trẻ nhỏ ngây ngô, còn chở hộ mấy bạn hàng ra chợ quận trước khi leo lên trực thăng bắt đầu cho một chuyến đi khác. Đời sống đã như vậy, là di chuyển, là sửa soạn, là không ngừng nghỉ. Có những thân mến, những luyến lưu - ở mỗi nơi đã đi qua, nhưng không nghĩ gì hết. Khi bay qua đồng ruộng, qua dòng sông, cũng không nghĩ gì hết. Thế mà bây giờ tất cả đã phải dừng lại. Ta trở thành một con thú lạ lạc trong rừng. Tiếng gọi của ta loãng trong gió chiều, vọng lại thành tiếng cười của bạn bè. Có phải lúc ta cô đơn nhất, là lúc ký ức sống trong ta thật mãnh liệt không? Rồi ta đâm ra sợ hãi chính mình nữa. Tiếng gọi, gọi mãi, đến lúc không còn âm thanh để vang vọng. Khi ấy đêm đã tràn đặc khu rừng. Trước mặt, sau lưng đều là bóng tối. Ở đây, mọi cảm xúc đều ngưng lại, chỉ còn một nỗi tuyệt vọng. Trong bóng tối, ta không còn vẽ được một gương mặt nào của người thân. Nhắm mắt lại thì thấy đầy mây trắng. Và tấm thảm màu xanh hiện ra. Và rừng cây đổ xuống, khép lại…

**


Chim hót nhiều hơn. Tiếng ríu rít làm người mở mắt. Ô, ngày lại bắt đầu rồi. Ngày bắt đầu cho một niềm hy vọng. Khu rừng này không phải là rừng rậm, mà giống như một vườn cây. Cây cỏ cũng hiền hòa quá! Chắc ở đây có người, ít ra cũng có một bác tiều phu.

Đàng kia là hướng đông. Mặt trời cười cợt ở đó. Người lính muốn đứng dậy để đi tới hướng đông, nhưng cái chân nhức quá! Hình ảnh què quặt làm người sợ hãi. Gắng gượng nhấc đầu lên, nhìn xuống chân, người ngạc nhiên thấy ở vết thương, một mảnh vải màu nâu đã buộc chặt nơi đó. Ai đã đi qua đây? Bác tiều phu? Những hướng đạo sinh gan dạ? Một người ở đơn vị bạn? Hay là…? Người hoảng hốt… Có tiếng nói lao xao ở phía thật xa trả lời cho người. Người nén lòng hồi hộp, nằm xuống, nhắm mắt lại, chờ đợi…

- Đây rồi! Ông ấy còn nằm đây.
- Ông ta chưa tỉnh lại.
- Đâu? Đâu?
Tiếng trẻ nhỏ! Tiếng ríu rít như chim. Ai vậy? Những thiên thần trú ngụ trong rừng? Hay những chú nai tơ bị đọa đầy? Người lính vẫn nhắm mắt, và nghe tiếng chân bước lại gần.
- Anh Khánh ơi! Không chừng ông ấy đã chết.
Một giọng nói khác chững chạc hơn:
- Để anh coi.
Người lính nghe một bàn tay sờ lên má mình, và một vật gì đó nặng nặng áp vào ngực mình. Cái đầu của một cậu bé! Mùi tóc khét nắng làm người lính “ách-xì” một cái.
Có tiếng reo vui mừng:
- A! Ông ấy còn sống!
- Suỵt! Dang ra hết. Coi chừng ông ấy có súng.
- Sao biết?
- Kìa! Ông lính mà!
- Nhưng mà ông ấy bị thương. Coi máu còn chảy ri rỉ kìa!
- Ừ nhỉ! Làm sao đây, anh Khánh?
Giọng nói ban nãy lại cất lên:
- Thì… đem ông ấy về.
- Thật không?
- Thật.
Có tiếng vỗ tay và tiếng cười thích thú. Người lính tiêu tan hết những lo sợ. Người muốn kéo dài trò chơi này một lát nữa, nên cứ nằm im, nhắm mắt lại như còn say ngủ.
- Nè, Lương! Sao ổng lại ở đây nhỉ?
- Ai mà biết! Chắc ông ấy mải mê… hái hoa bắt bướm.
- Hic hic, coi kìa! Ông ấy là lính. Chắc ông ấy đánh giặc, rồi chạy vào rừng.
- Nè, Hiền, xem cái mắt ông ấy, cái mũi ông ấy, cái cằm ông ấy, cái tay, cái chân ông ấy… to ghê hở!
- Thì… tại ông ấy là người lớn.
- Không! Ông ấy là người khổng lồ chứ!
- Làm sao anh Khánh vác nổi?
- Thì tụi mình hè nhau khiêng ổng, đứa cái đầu, đứa cái tay, đứa cái chân…
- Không được, chân ông ấy bị thương mà!
Tiếng của Khánh:
- Các em im nào! Để anh nghĩ coi… phải kêu ông ấy dậy đã.
- Chắc ổng kiệt sức rồi…
- Á à! Đã có cách. Các em tới bỏ hết củi xuống, đẩy xe lại đây.
Đám trẻ dường như đã dang xa. Có tiếng cây khô bị ném xuống đất. Rồi có tiếng cót két của một chiếc xe kỳ lạ được đẩy tới gần. Người lính hết kiên nhẫn kéo dài trò chơi, nên mở mắt ra. Gương mặt đầu tiên, người lính đoán là gương mặt của Khánh, cậu bé lớn nhất, độ mười bốn, mười lăm tuổi, mái tóc hơi vàng vàng mầu nắng cháy, dáng người mạnh khỏe, có vẻ đầu đàn lắm. Khánh mở to mắt nhìn người lính, thốt lên:
- Ông ấy đã tỉnh!
Một đám, mươi đứa trẻ, nhỏ hơn Khánh, ùa chạy đến, chen nhau nhìn người lạ. Người bây giờ có thể nhìn tận mắt những thiên thần, những chú nai non. Không rực rỡ, không mịn màng, nhưng sự hiện diện của bầy trẻ nhỏ là dòng suối chảy qua vùng khô hạn. Người lính cười với chúng và gượng ngồi dậy. Nhưng cậu bé Khánh ngăn lại và hỏi:
- Ông! Ông có đau lắm không?
Người lính chớp mắt cảm động:
- Đau. Nhưng anh khát nước lắm.
Nghe được tiếng nói của “người khổng lồ”, đám trẻ nhìn nhau, xì xầm. Một đứa chìa ra một bình nước nhỏ. Khánh đỡ lấy và cúi xuống:
- Ông uống nước đi!
- Cám ơn các em. Các em ở đâu vậy?
Khánh trả lời:
- Chúng em ở gần đây. Đi hết khoảng rừng này là đến rẫy khoai. Đi hết rẫy khoai là đến nhà chúng em.
Người lính vui mừng:
- Gần đây có nhà cửa hở em? Có đông không?
- Dạ… không.
- Thế các em ở với ai?
- Dạ với cha. Ông, … ông uống nước đi.
Người lính uống cạn bình nước. Những đứa bé nhìn nhau, kín đáo cười. Khánh hỏi:
- Ông đói không?
- Đói. Nhưng… anh không ăn hết phần của các em đâu.
Một đứa bé liến thoắng nói:
- Tụi em chỉ có khoai lang với củ mì, anh muốn ăn bao nhiêu cũng được. Nhưng tụi em không có thịt cừu với rượu vang đâu.
Người lính mỉm cười:
- Các em tốt lắm! Phải các em đã băng chân anh lại không?
- Dạ, chính bé Hiền đó anh.
Đứa bé trai tên Hiền nói:
- Tụi em sáng nay đi lượm củi, thấy anh nằm dưới đất, máu ở chân chảy ra. Em xé đại vạt áo cột lại cho anh. Em … đâu có biết băng. Xong rồi tụi em mới rủ nhau đi kêu anh Khánh tới.
- À ra thế.
Người lính nhìn quanh đám trẻ, hơi ngạc nhiên và hỏi:
- Các em … là anh em ruột?
Lũ trẻ nhìn nhau, rồi nhìn người lính, lắc đầu.
- Các em ở với cha mẹ?
Khánh không đáp, mà hỏi:
- Anh muốn về với chúng em không?
- Muốn, muốn chứ! Anh lạc trong rừng này từ chiều hôm qua.
- Sao anh lại lạc vào đây?
- Anh bị rớt phi cơ.
- Anh lái tàu bay hở?
- Không, anh là lính nhảy dù.
- À, em biết rồi. Vậy còn mấy người kia đâu?
- Họ chắc là đã chết hết. Anh lê lết trong rừng rồi ngất xỉu. Sáng thức dậy anh thấy mình ở đây.
- Chắc chân anh đau lắm? Để tụi em chở anh về. Về nhà sẽ có người băng bó lại chân cho anh. Bây giờ…
Cậu bé ngần ngừ, chỉ cho người lính thấy chiếc xe ngộ nghĩnh ở đàng xa:
- Anh đi không được, tụi em chở anh bằng chiếc xe chở củi đó nhé!
- Sao được? Anh nặng lắm đó!
- Anh đừng lo, xe này chúng em đóng lấy để chở củi, chở khoai. Anh xem, chứ làm sao ôm về cho xuể, từ rẫy về làng cũng khá xa.
Người lính sáng mắt lên, hỏi nhanh:
- Em vừa nói “làng” phải không?
- Dạ.
- Làng tên gì?
- Làng “Chim sâu nhỏ”. Anh, anh không chê xe chở củi dơ dáy?
- Đâu có! Được các em cho về nhà, anh vui mừng lắm chứ.
- Vậy anh về với chúng em nhé!
Lũ trẻ đẩy chiếc xe lại. Đó chỉ là một cái thùng gỗ hình chữ nhật, dài độ một thước rưởi, bên dưới gắn bốn bánh xe nhỏ cũ kỹ. Người lính mỉm cười , chợt nghĩ đến phép lạ. Sự việc một kẻ lạc lõng được cứu sống nhờ một bầy trẻ nhỏ, đúng là một phép lạ. Nhưng chúng nó là ai? Con của ai? Không là anh em ruột, nhưng đi với nhau một đàn, lượm củi đào khoai chung, vậy chúng là gì với nhau? Là con của một người cha nhiệm mầu? Hay là thần dân của một xã hội tí hon đầy tình tương ái? Người lính ngỡ như mình đang sống trong một chuyện thần tiên. Người thắc mắc nhưng cảm thấy thú vị lắm. Chỉ một lát nữa thôi, khi vượt khỏi đám rừng rẫy, sẽ biết được lũ trẻ là ai.

Vết thương ở chân và sự ê ẩm khắp người làm người lính không cử động nổi, đành nằm yên để mươi đứa bé khiêng mình lên xe. Bề dài của chiếc xe quá ngắn. Khánh ái ngại nếu người lính phải ngồi. Cậu bé chợt nẩy ra một ý kiến:
- Anh cứ nằm cho khỏe nhé! Hiền, Lương, hai đứa ra phía trước kéo với anh. Hảo và Tú đẩy phía sau. Hai chân của anh ấy dư một chút, thò ra, Thiện với Ái đỡ lấy cho cẩn thận. Còn Lành với Ngoan cũng đỡ phụ vào nghen! Coi chừng cái chân đau của anh ấy đấy!
Một giọng nói trong trẻo cất lên:
- Còn em nữa, em sẽ làm gì?
Khánh ngơ ngác:
- A, còn Hậu nữa. Để xem… em phải thay thế chiếc xe, vác hết củi về làng.
Cậu bé độ chín tuổi, lanh lẹ, nhỏ nhắn, tỏ vẻ nũng nịu:
- Không chịu! Em nhỏ nhất mà!
Khánh cười;
- Anh nói đùa đó! Bé Hậu ôm bình nước rỗng nè, chạy theo tụi anh nghen!
Người lính nằm ngay ngắn trên chiếc xe bằng gỗ, hai chân được bốn đứa bé giữ lấy. Khánh cười:
- Xong rồi, bây giờ tụi em đưa anh về. Ủa, anh … gì nhỉ?
Đến bây giờ người lính sực nhớ ra rằng sự thương mến đã đến trước cả việc biết tên. Người lính đáp:
- Anh là Trúc.
Thằng bé tên Lương che miệng cười:
- Anh tên Trúc, mà anh so với tụi em thật giống người khổng lồ.
Hiền nói:
- Em cứ ngỡ anh là… ông Qui-Li-Ve lạc vào nước tí hon.
Trúc trố mắt nhìn lũ trẻ, vừa ngạc nhiên vừa thú vị. Khánh giục:
- Mau lên! Một, hai, ba!
Chiếc xe được kéo đi chầm chậm. Chín đứa trẻ lấy làm hân hoan lắm. Hôm nay, thay vì chở củi, chúng đã mang một người gặp nạn giữa rừng về đến làng của chúng. Ở đàng sau, chỉ có thằng bé Hậu lon ton, tay ôm bình, chân tung tăng bước. Chiếc xe chạy gập ghềnh trên những đất đá và cành khô, nhưng cũng bỏ xa thằng bé một đỗi. Hậu chợt nhìn xuống chân, và thấy một vật nhỏ lấp lánh dưới nắng vàng. Hậu nhặt lên, nhận ra đó là một cái hộp hình quả tim. Của người lính chăng? Nó mở hộp ra, rồi đậy lại, lắc đầu. Chắc không phải của ông ấy đâu! Thằng bé bắt đầu liên tưởng đến những chuyện thần tiên. Quả tim nhỏ bé và dễ thương quá! Hậu khen thầm như vậy, rồi nhét chiếc hộp vào túi áo, rảo bước đi theo những người kia.

Trời đã gần trưa. Nắng vàng tươi rải đầy trên cây lá. Khu rừng này quả là một nơi hiền dịu. Chắc không hề có bóng thú dữ. Người lính chỉ nghe tiếng chim hót đầy khắp những ngọn cây. Và bên cạnh, tiếng hát líu lo của lũ trẻ cất lên lâng lâng với gió:
- “Nào anh em kéo củi về làng
Đừng lo chi đời sống lầm than
Mặt trời lên lung linh ánh vàng
Anh em sẽ thấy đời bình an.
Nào anh em… nào anh em…
.”
Bầy trẻ đã quen đường đi trong khu rừng nhỏ nên chỉ độ mười lăm phút sau, chúng đã đưa Trúc ra khỏi rừng. Trúc muốn nhỏm dậy, muốn reo lên, muốn khóc lên, khi nhìn thấy một đám rẫy quang đãng, và ở bên kia rẫy, có bóng những ngôi nhà!

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Chương1, Chương 2, Chương 3, Chương 4, Chương 5, Chương 6, Chương 7, Chương 8, Chương 9, Chương 10, Chương 11, Chương 12, Chương 13 (hết)