Những bài mới nhất

 

Nhớ về Nhật Bản, 6 năm sau trận động đất và sóng thần ngày 11/3/2011

 

alt
 

 
1
 
Em nhìn tôi, đôi mắt tròn quá tròn. Tôi cũng tròn mắt nhìn em. Hơi sững sờ một chút. Em nói:
- Thanh-san!?? Có phải chị là Thanh?
- Dạ phải. Cô là…?
- Tên tôi là Aika. Tôi làm ở phòng bên cạnh ạ.
- Lab ELISA?
- Phải.
Em cúi đầu thật thấp để chào tôi, rồi em đưa ra một xấp hình:
- Nhân viên tiếp tân đưa những tấm hình này cho tôi, vì anh ấy tưởng người trong hình là tôi, nhưng may quá, tôi biết chị làm bên lab này, nên nhận luôn giùm cho chị.
- Cám ơn Aika.
Tôi cầm xấp hình, nhìn mình trong hình rồi nhìn Aika. Cả hai chúng tôi cùng cười. Mấy người nhân viên trong phòng đến xin xem hình, và nói sao chúng tôi giống nhau quá!
Đó là kỷ niệm nhỏ mà tôi mang theo suốt những năm tháng sau này, khi tôi không còn gặp lại Aika nữa. Tôi vẫn không tin vào cái điều làm thế nào lại có một cô gái Nhật Bản có nét mặt giống tôi như vậy. Nhưng quả tình là ai cũng công nhận chúng tôi rất giống nhau, như hai chị em. Sau ngày đầu tiên gặp nhau ấy, Aika và tôi đã làm việc bên nhau trong cùng khoa thí nghiệm. Khi tôi từ giã Tokyo, thì em cũng chuyển về Sendai trong tỉnh Miyagi để làm việc ở một chi nhánh của Hồng Thập Tự Nhật Bản, và sau đó… không có cơ hội biết được tin tức gì của nhau. Thời đó chúng tôi chưa dùng email, mà gọi điện thoại thì lại là một điều không dám nghĩ tới, vì… quá đắt.

Và em là một trong những người bạn Nhật Bản mà tôi quen biết trong hai tháng sống tại đất nước này, năm 1994.

Là Nhật Bản năm 1994! Lần đầu tiên tôi được “xuất ngoại”, sau nhiều lần bị “sang đoạt” học bổng, cuối cùng tôi thi đậu và được đi, mà lại được đến xứ sở của hoa Anh Đào, của mặt trời mọc. Phải, tháng Năm thì không còn hoa Anh Đào nữa, nhưng bù lại tôi biết vì sao mà xứ sở này được gọi là xứ mặt trời mọc. Tôi rất ngạc nhiên khi buổi sáng chỉ mới hơn 4 giờ thì trời đã sáng chói chang. Không thể “ngủ nướng” thêm một chút nào, mà phải dậy đọc sách thôi. Nhìn qua các cửa sổ của tòa nhà cạnh bên khách sạn tôi trú ngụ, có lẽ là một công ty thương mại, nơi mà đến khuya lắc tôi vẫn thấy đèn sáng choang, người đi qua đi lại hồ như làm việc suốt đêm, rồi 4 giờ sáng vẫn có người đi qua đi lại. Một thành phố không ngủ! Bởi vì trời đất như cũng không ngủ.

Là Tokyo lịch sự, trang trọng. Thành phố sạch sẽ. Cái tân tiến đứng cạnh cái cổ kính. Building cao ngất xen lẫn với đền đài có tự lâu đời. Chỉ trừ lúc phải về khách sạn vào chiều tối, ở trong căn phòng mà khi đóng cửa lại thì chỉ còn nghe “tiếng của sự im lặng” o… o… đến nhức tai, còn những khi có thể được tôi vẫn thích đi ra ngoài, để tản bộ ngắm cảnh đường sá, để mua thức ăn, có khi chỉ để nghe tiếng kêu của những con quạ trú ngụ trên những ngọn cây. Vâng, Tokyo đặc biệt có rất nhiều quạ. Loài chim này không xa lạ với những cư dân ở khắp nơi trong thủ đô. Và chẳng bao lâu cũng không còn xa lạ với tôi.

Là những đường tàu metro, xe lửa. Tokyo luôn rầm rập tiếng của xe lửa. Xe chạy trên cao. Xe chạy dưới hầm. Cảm giác của tôi khi sống tại đây là: người dân, và cả những người không phải cư dân của Tokyo nhưng từ các thành phố khác vào làm việc, hết phân nửa di chuyển dưới lòng đất, nếu không, chắc là sẽ không nhích bước nổi.

Là người Tokyo. Vội vã nhưng không chen lấn. Bận rộn nhưng rất đúng giờ. Họ đi như chạy, nhưng không đụng vào ai. Lên xe bus, xe lửa, metro, họ đứng san sát vì xe lúc nào cũng đông nghẹt người, đa số là người từ các vùng khác vào thành phố để làm việc. Vì thường phải mất ít nhất một, hai tiếng đồng hồ trên xe nên họ rất thích nhắm mắt. Ngồi cũng nhắm mắt, đứng cũng nhắm mắt. Tôi thì banh mắt ra và nơm nớp lo sợ mình bị lố trạm thì lạc đường. Nhưng họ, những người “ngủ đứng ngủ ngồi” trên xe ấy, hầu như mở mắt rất đúng lúc, khi tiếng loa trên xe báo đúng tên cái trạm mà họ cần xuống. Họ không bao giờ bị lố. Cũng là người Tokyo, khi chiếc xe lửa hay metro dừng lại ở một trạm, người đứng gần cửa kéo nhau đi xuống dù đó chưa phải là nơi họ muốn xuống, để lấy chỗ trống cho những người dưới bến lên xe hết, rồi họ lại trở vào. Có người không hiểu, cho rằng bày ra như vậy không cần thiết. Nhưng lát nữa, khi họ xuống đúng trạm của họ, sẽ không có cảnh chen chúc xảy ra trên xe.

Người Nhật nói rất nhanh, nhưng họ vẫn có đủ thời gian để chào nhau lịch sự, đủ thời gian để cúi đầu thật thấp, không chỉ để chào, mà để tỏ sự tôn trọng người đối diện trong suốt cuộc chuyện trò.
 
Và đó là họ, người Tokyo, người Nhật. Và như thế, mọi việc diễn ra hàng ngày, thật bình thường, thật đẹp.

Là Masayuki, người hướng dẫn, người có nhiệm vụ “take care” tôi trong thời gian tôi ở Tokyo, đưa tôi đến nơi ở mới, vì khách sạn chỉ là nơi tôi tạm trú trong một tuần đầu, giá phòng rất đắt. Nơi ở mới, người ta gọi là “mansion”, nhưng không phải “lâu đài”, mà là loại khách sạn nơi đó người cư ngụ có thể tự nấu ăn, và phải tự dọn dẹp trong phạm vi căn phòng của mình. Giá cả cũng rẻ hơn một chút. Masayuki nói:
- Khi nào phải dọn đi nơi khác, khách phải dọn dẹp sạch sẽ rồi mới trả phòng. Lúc đó xin chị cứ gọi tôi đến dọn dẹp giúp nhé!
Tôi hoảng hồn nói ngay:
- Không, không, sao lại thế? Cám ơn anh , tôi làm được ạ! Cám ơn anh!
Masayuki rất dễ mến, nhưng hút thuốc quá nhiều. Anh nói không bỏ thuốc lá nổi. Mà người Nhật cũng hút thuốc dữ lắm. Ở những máy tự động bán snack, tôi thường thấy nam, nữ, người già, thanh niên dừng lại mua thuốc lá. Tôi ở Việt Nam đã quen với cảnh người ta hút thuốc, nhưng nhìn người Nhật hút thuốc tôi có chút ngỡ ngàng. Cho đến hiện tại, tôi được biết tỷ lệ hút thuốc của người Nhật là 37% ở nam giới và 9% ở nữ giới, đã giảm rất nhiều so với ngày đó, nhưng Nhật Bản vẫn đứng trong số các nước có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất trong thế giới công nghiệp hóa.
Gần bước qua tuổi bốn mươi nhưng Masayuki chưa lập gia đình. Anh nói:
- Trước khi làm công việc này tôi đã ở Nepal và đi làm việc tại một làng nhỏ ở chân núi Himalaya. Chắc rồi tôi sẽ trở về đó để theo chân các vị sư, họa may mới bỏ được thuốc lá.
Tôi cười theo anh. Nhưng tôi không chắc là các vị sư ở đó có bị cấm hút thuốc lá hay không. Trong một cử chỉ tin cậy, Masayuki cho tôi xem hình của mẹ anh:
- Đây là mẹ tôi. Bà cụ đang sống trong viện dưỡng lão, với nhiều chứng bệnh chưa cần thiết cho một người ngoài tuổi sáu mươi. Những di chứng hậu quả của bom nguyên tử năm 1945 đấy! Nhưng bà vẫn còn sống. Ba tôi thì đã qua đời. Còn tôi thì thích lang thang.

Masayuki mỉm cười nhưng trông thật buồn. Tôi nghĩ nếu không phải đang ngồi trước mặt tôi, chắc chắn là anh sẽ châm một điếu thuốc. Tôi cũng mỉm cười, bất chợt lòng se lại khi nhớ đến những câu chuyện cha mẹ tôi thường kể về khoảng thời gian năm 1945, khi cha mẹ tôi mới cưới nhau chưa có con cái, khi nạn đói xảy ra tại Việt Nam làm cả triệu người chết, khi những người thuộc thế hệ cha ông của Masayuki đến đất nước của tôi bằng những bước chân chinh phục…

Người anh em, người bà con đang “take care” tôi trong thời gian tôi tu nghiệp tại Nhật, với tuổi đời khá đủ để hiểu đôi điều về lịch sử, cũng như tôi, chắc cũng đăm chiêu với ý nghĩ về những cuộc thăng trầm, dù lúc đó chúng tôi còn ở tận đâu đâu.

Chúng tôi cùng im lặng.
 
2

Là những người dễ thương của khoa xét nghiệm. Từ người trưởng phòng và cũng là người nhiều tuổi nhất trong khoa cho đến các nhân viên trẻ măng. Họ thật nhiệt tình và dễ mến. Ai cũng gọi ông trưởng phòng là “sensei” (thầy). Vậy mà chỉ trong ngày đầu tiên nhận tôi vào làm việc, ông đã hỏi tôi ngay:
- Thanh-san! (san là ông, bà, cô, anh, chị…, người Nhật hay gọi như vậy giống như người Việt thường đặt ông, bà, cô, anh, chị… trước cái tên) Chị có dạy học trò không?
- Dạ có, thưa sensei! Tôi không có danh hiệu giáo sư, tiến sĩ chi cả. Nhưng tôi có học trò, tôi có giảng bài ạ!
Ông nói ngay:
- Như vậy chị đã là sensei. Chúng tôi tôn trọng những người đứng lớp, truyền bá kiến thức cho người khác.
- Cám ơn sensei!
Tôi chạnh nhớ đến câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” của người mình.

Nhưng ông không nói giỏi tiếng Anh. Tôi lại không rành tiếng Nhật, mà cũng không bị bắt buộc phải học tiếng Nhật, vì tôi chỉ tu nghiệp 2 tháng với học bổng của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), có thể sử dụng tiếng Anh để làm việc. Vì vậy tôi luôn có người thông dịch trong sở nếu gặp người không thể nói tiếng Anh. Tôi rất khâm phục nền khoa học của nước Nhật vì họ tự lực cánh sinh rất nhiều, sách vở tài liệu toàn chữ Nhật, máy computer dùng toàn chữ Nhật, cần thiết lắm thì họ mới in tài liệu tiếng Anh dành cho khách ngoại quốc. Tôi rất may mắn có đầy đủ trong tay những văn bản tiếng Anh. Nhưng có một điều đáng nể nữa, là họ không chấp nhất bắt phải dịch tất cả ra chữ Nhật đối với những từ ngữ chuyên môn, cho nên tôi dễ dàng tìm thấy nguyên ngữ tiếng Anh như “antibiotics, vitamin, antigen, antibody v.v…” trong tài liệu tiếng Nhật của họ. Hai đặc điểm hầu như có vẻ mâu thuẫn này là câu trả lời cho thắc mắc tại sao đất nước Nhật Bản có thể tiến rất nhanh và rất xa sau khi hai quả bom nguyên tử trút xuống vào năm  1945 như vậy.

Là những con người cần cù trong các lab của khoa xét nghiệm về các bệnh lây truyền qua máu. Tôi ngạc nhiên nhưng cũng tự trả lời được vì sao một đất nước robot- hóa như Nhật Bản mà trong phòng thí nghiệm vẫn còn dùng những bộ “agitator” thủ công. Tôi, ngoài những lúc dùng micropipet tự động, còn phải tập “xoe” bộ “đồ nghề” dùng để pha loãng này, và mến phục những cô kỹ thuật viên khéo léo, thoăn thoắt bàn tay như thể đang múa những chiếc kim đan.

Là Trung tâm Truyền Máu Trung ương của Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản, một cái tên rất dài, Japanese Red Cross Central Blood Center, nơi tôi đến học và làm việc. Là những chi nhánh Hồng Thập Tự ở lân cận thủ đô. Tôi cảm thấy mình nên làm một cái gì cho những nơi tiếp nhận mình, cho người Nhật, vì vậy tôi xin được hiến máu.

Ôi! Tôi không được như ý! Vì khi bước lên chiếc cân, tôi không đủ 40 ký lô! Một cô kỹ thuật viên chuyên lấy máu an ủi tôi:
- Nguyên tắc của chúng tôi là không lấy máu của người dưới 40 ký lô, xin chị đừng buồn. Chị còn nhiều cách để giúp chúng tôi mà!
Tôi đành phải dẹp ý tưởng hiến máu.

Những người đi hiến máu cho Hội Hồng Thập Tự nhận một cái móc khóa lưu niệm của Hội, thế thôi, và tươi cười ra về.

Tôi thấy mình còn nợ đất nước này một cái gì…
 
3
 

Là thầy tôi bên N.H.I., Viện Sức khỏe Quốc gia tại Tokyo. Tôi lại chuyển qua một “mansion” khác, để gần với N.I.H. cho đỡ mất thời gian đi và về. Nói là “gần” nhưng tổng cộng thời gian đi bus và metro rồi đi bộ thêm một khúc đường nữa cũng hơn cả tiếng đồng hồ. Tôi học được thói quen lên xe thì nhắm mắt lại, sau khi đã yên tâm là mình không sợ lạc nữa. Tôi học cách đi thật nhanh mà không mệt. Nhưng nói nhanh như người Nhật thì không. Mấy bạn Nhật hỏi tại sao người Việt Nam nói hơi chậm, tôi có dịp giải thích cho bạn là tuy có nói nhanh cách mấy cũng không thể nhanh quá, vì tiếng nước tôi là tiếng “đơn âm” (monosyllable), không phải “đa âm” (polysyllable) như tiếng Nhật hay tiếng Anh, tiếng Pháp… Các bạn thấy thú vị lắm. Các bạn cũng nể phục khi nhìn thấy chữ Việt, loại chữ dùng mẫu tự La-tinh. Tôi lại có cơ hội để nói một hơi về công lao của những vị học giả đã có công xây dựng loại chữ viết dễ học này, một sản phẩm có một không hai của Á châu.

Thầy dạy về HIV của tôi là một nữ giáo sư. Bà rất tận tụy, lại rất dịu dàng nên thầy trò tôi rất hợp nhau. Chính vì nể trọng bà quá nên khi bà đưa tôi đi ăn món “cá sống” và những loại hải sản sống khác, tôi phải luôn miệng khen ngon vì biết họ chỉ đãi khách quý những món ăn sống đó. Còn ở sở làm việc thì tôi vẫn thường ăn các món ăn nấu chín như thức ăn của người mình thôi. Ôi! Tôi còn nhớ cảm giác khi cho những thức ăn sống vào miệng, trợn mắt nuốt, miệng tươi cười, không dám tỏ vẻ gì làm thầy buồn. Tôi tự nhủ: “Ráng lên! Chỉ có vài dịp thôi mà!”

Thầy tôi đưa tôi đi Tokushima, nằm trên đảo Shikoku, rồi giao tôi cho những người ở đó “chăm lo” cho tôi trong thời gian tôi học tại một công ty dược phẩm tư nhân, công ty Otsuka. Đêm đầu tiên ở Tokushima, tôi về phòng, viết thư cho Ba tôi: “Ba ơi, khi con nhìn thấy cây cầu treo Naruto hùng vĩ nối đất liền với hòn đảo nơi đây, một cây cầu dài, cao và diễm lệ, con không ngăn được nước mắt Ba ạ! Vì thấy cây cầu này con lại nghĩ đến những cây cầu xiêu vẹo và không an toàn ở xứ sở mình. Người ta xây dựng bao nhiêu nhà cao cửa rộng ở thành thị nhưng không bao giờ xây nổi một cây cầu xi măng cho dân ở thôn quê, để tồn tại biết bao nhiêu cầu tre lắc lẻo, thậm chí những cây cầu khỉ, những cây cầu bằng thân cây dừa trơn trợt...”

Khi đến nơi đây tôi lại làm quen với một chỗ ở mới. Là một “dorm” dành cho nhân viên và học viên của công ty Otsuka. Bây giờ thì không phải là khách sạn mà cũng không là “mansion”. Phòng ngủ rất đẹp, nơi giặt giũ cũng rộng rãi. Quần áo sáng chỉ cần giặt rồi cho qua máy sấy, chiều về đã thấy quần áo khô ráo để trên mặt máy sấy rồi, người khác đã đến dùng máy và thu xếp giùm cho mình mà không bao giờ sợ mất. Nấu ăn thì không lo vì tôi đã có thể ăn trong cafeteria của sở. Nhưng còn một phần “nguy hiểm” đối với tôi: đi tắm. Ồ! Đi tắm thì có gì mà nói? Nơi ở đã tuyệt vời thế kia thì tắm táp đâu có thành vấn đề! Nhưng không, với tôi, là cả một vấn đề. Vì tôi không tìm đâu ra một phòng tắm riêng. Các vị phụ nữ tắm chung trong một phòng tắm khổng lồ, với những vòi sen gắn dọc theo các bức tường, và rồi cùng xuống vẫy vùng trong một cái hồ thật lớn, Trời ạ!!!

Tôi không dám thổ lộ với ai về “nỗi đau khổ” này. Nhưng thầy tôi rất tinh ý, bà hỏi tôi có phải khó khăn lắm không, vì bà biết người Việt Nam không có tập quán đó. Tôi đành công nhận điều khó nói này. Thầy bảo sẽ nhờ công ty thu xếp cho tôi một chỗ ở khách sạn, nhưng tôi không chịu, tôi hứa sẽ “xoay sở” được. Thầy quay lưng đi, tôi lại đau khổ tiếp. Tôi không thể nào làm như họ được. Tôi vốn tính mắc cỡ mà! Làm sao đây? Trời thương xót tôi, tôi đã tìm ra, ngay trong phòng tắm khổng lồ ấy, một góc nhỏ có một tấm màn kéo lại, trong góc ấy có hẳn một vòi sen. Tôi thật như được cứu sống, sung sướng với cái “giang sơn” riêng biệt của mình.

Sau này, khi một người bạn mời tôi về nhà của chị ở chơi một ngày, tôi cũng có dịp thấy  cái hồ tắm chung của gia đình người Nhật, vợ chồng con cái cùng tắm chung trong đó.

Là những em bé Nhật Bản má phinh phính hồng hồng, vô tư hồn nhiên thụ hưởng tất cả những gì mà cuộc sống ở đất nước thanh bình phồn thịnh này mang lại cho các em. Người còn sức trẻ thì miệt mài học hành, làm việc, chạy đua với cái đồng hồ. Nhưng tôi đã thấy, trên vầng trán và ánh mắt của những người già, chưa phai dư ảnh của những nhọc nhằn trong quá khứ. Bà cụ mẹ của người bạn tôi, khi theo chúng tôi đi chơi, dừng lại trước những tấm bảng trưng bày cảnh hoang tàn của Hiroshima và Nagasaki sau cuộc thả bom nguyên tử năm 1945, lặng lẽ lau nước mắt. Rồi như nuốt vội nỗi buồn vào trong, bà lẩm nhẩm hát một bản cổ nhạc. Vậy rồi cũng có một lúc bà kể hết cho tôi nghe thời thơ ấu của bà, khi chiến tranh xảy ra bà là cô bé lên mười, gia đình ở Hiroshima tan nát chia lìa, bà theo người bà con chạy qua Tokushima từ đó.

Là Tokushima, thanh bình, êm ả. Không vội vã như nếp sống ở Tokyo. Mọi người đi xe hơi riêng. Ít thấy người đi san sát, ít nghe tiếng xe cộ rập rình. Ngày nghỉ, mọi người đi cable lên vãn cảnh chùa trên núi cao đầy những cây cedar, hoặc đi tàu lớn ra thưởng thức whirlpools ở Naruto, hưởng hết cái cảm giác khi con tàu dừng lại ở một chỗ không chạy được mà cuốn tròn trong một xoáy nước. Ngoài nơi làm hàng mỹ nghệ với vải nhuộm Indigo độc đáo, còn một nơi nữa, nơi đã cho tôi cảm nghĩ về tính ưa chuộng hàng thủ công của người Nhật. Tất cả những gì được làm thủ công, “hand-made”, người Nhật rất quý. Đó là một nhà máy làm đường bằng phương pháp thủ công, nhưng cơ ngơi thì như một nhà máy tối tân vậy. Ở xứ mình, mọi người vẫn coi đường chỉ đơn giản là một loại thức ăn, một thứ gia vị, không có gì đặc biệt. Tôi dù sao cũng vẫn không quên những ngày tháng sau 30 tháng tư 1975, có những khi thèm ăn ngọt khủng khiếp, phần vì do mọi thứ đều khan hiếm, phần thì do thiếu ăn nên cơ thể lúc nào cũng thèm ngọt. Đường lúc đó là “nhu yếu phẩm”, thậm chí là “xa xí phẩm”. Đêm nào tôi cũng phải nấu một lon “ghi-gô” chè để ăn thì mới thấy không tội lỗi với chính mình! Nhưng rồi, mọi người cũng dễ dàng quên đi cái thức ăn, cái gia vị đã một thời là nỗi ao ước. Thế mà, tôi không thể ngờ, khi tôi mua một hộp kẹo đường từ nhà máy làm đường ở Tokushima, giá rất đắt, về tặng các bạn ở công ty Otsuka, mọi người xúm lại, hân hoan thấy rõ. Mỗi người nâng niu một chiếc kẹo đường trong bàn tay, ngắm nghía, rồi từ từ bóc lớp giấy đẹp đẽ bọc ngoài, vừa thưởng thức vừa trầm trồ như thể những viên kẹo đường kia là cao lương mỹ vị. Sau này tôi mới nghiền ngẫm ra được rằng người Nhật Bản thích ăn đường không chỉ vì ái mộ hàng thủ công, lại càng không phải vì thiếu thốn…

Tôi trở lại Tokyo sau khi đã học xong về R.I.A., kỹ thuật miễn dịch phóng xạ. Cũng đã làm quen với cảnh “đếm” độ phóng xạ với một thiết bị nhỏ như cây bút mang trong túi áo mỗi khi đi vào phòng thí nghiệm. Trên đường về tôi còn được ghé cố đô Kyoto để dự lễ hội Gion nhân một ngàn hai trăm năm xây dựng cố đô, được hòa cùng dòng người cuồn cuộn chìm ngập trong rừng xe hoa trang trọng, được thấy những đền đài cổ kính và phố sá nhộn nhịp, được vào trú ngụ trong khách sạn “Ba chị em” (Three Sisters’ Inn) hoàn toàn phong cách Nhật.

Ngày tôi rời Tokyo, vẫn là Masayuki đưa tôi ra phi trường. Không đơn giản xem anh như người có nhiệm vụ hướng dẫn đường đi nước bước cho mình, tôi xem anh như một người bà con, có duyên tôi đã gặp.
- Thanh-san! Hẹn gặp lại chị. Sayonara!
- Masayuki-san! Tạm biệt. Bao giờ anh qua Nepal, nhớ cho tôi biết.
- Vâng.
- Bao giờ anh bỏ thuốc lá được, cũng nhớ cho tôi biết.
- Chắc chắn.
Ôi! Tôi không thể nào quên được đất nước này. Trong nhiều năm sau nữa, tôi vẫn thấy như mình còn nợ nơi đó một cái gì. Bởi tôi còn nhớ, nhiều lúc đang đi trên đường phố tại Nhật Bản, tôi nghe một tràng tiếng Nhật, mà thật đáng tội là tôi đâu có hiểu tiếng Nhật nhiều, tôi phải trả lời bằng tiếng Anh rằng tôi không phải là người Nhật. Nếu may người kia hiểu tiếng Anh, họ sẽ bảo rằng tôi trông giống người Nhật lắm. Ai cũng nói như vậy cả. Tôi đã là người Nhật trong một kiếp nào chăng?

4
 
Trong nhiều năm sau nữa, một ngày kia tôi tình cờ xem một DVD phim hoạt họa “Grave Of The Fireflies”, tôi đã khóc ròng khi trông cảnh hai anh em mồ côi sống trong những ngày tháng cuối cùng của Thế chiến thứ Hai ở đất nước Nhật Bản, lúc thành phố Kobe đang bị quân đội Đồng Minh dội bom.

Là Seita và Setsuko. Đứa anh và đứa em gái. Áo quần tả tơi, đói khát, lang thang trong những hầm trú bom, hai anh em sống lây lất nhờ những thức ăn thừa. Gia tài còn lại cuối cùng của chúng là một cái lon đựng kẹo, loại kẹo đường có mùi trái cây, kẹo Sakuma, và chúng đã bắt những con đom đóm bỏ vào đầy cái lon không. Ngọn đèn đom đóm ấy có thể chiếu sáng căn hầm mà hai anh em trú ngụ. Nhưng qua hôm sau cô bé Setsuko hoảng sợ khi thấy những con đom đóm đều chết hết. Cô bé đào một cái huỵêt để chôn bầy đom đóm ấy. Và khi không còn thứ gì để ăn, anh Seita phải đi ăn trộm hoa màu ở những nhà của nông dân gần đó và ăn trộm cả đường nữa.

Nhưng cuối cùng, ngay thời điểm Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, em Setsuko chết vì suy dinh dưỡng trầm trọng. Trong cơn hấp hối, em mút những viên bi đủ màu mà ngỡ đó là những viên kẹo trái cây. Em đưa cho anh những “nắm cơm” mà thật ra chỉ làm bằng đá. Em chết mà chưa kịp ăn bữa cơm do anh nấu vội. Một người nông dân cho anh vật liệu để anh thiêu xác em. Anh đặt một ít tro tàn của em vào chiếc lon kẹo trái cây và mang theo bên mình, cho đến khi anh cũng chết vì đói lạnh tại một nhà ga xe lửa. Chỉ có một chút vui ở cuối phim, là cảnh hai anh em họ, đúng ra là hai linh hồn, không còn rách rưới, không còn đói khát, ngồi bên nhau trên thiên đường và nhìn xuống quang cảnh một thành phố Kobe tráng lệ thời hiện đại.

Ôi! Người Nhật không bao giờ quên quá khứ, cho nên họ nâng niu trân trọng những viên kẹo đường.
 
 
alt

 
5


Bây giờ đây, khi nước Nhật đang trải qua một tai họa khủng khiếp gồm cả động đất, sóng thần và hạt nhân, tôi nghe trái tim tôi đau đớn như đứng trước nỗi bất hạnh của người thân. Vâng, tôi yêu đất nước mặt trời mọc đó, đất nước của những con người siêng năng và giàu lòng tự trọng. Là đất nước chứa chan những bài hát hòa bình vì đã từng trải qua đau thương từ chiến tranh. Là đất nước hứng chịu thiên tai triền miên. Thật xót xa khi nghe một nhà khoa học đã nói: “Trái đất của chúng ta chịu một áp lực khủng khiếp từ trong lòng đất, nó phải bung ra ở một nơi nào đó. Và… nó đã bung ra tại Nhật Bản. Khi Nhật Bản gánh chịu đại nạn này, phần còn lại của thế giới đã được an toàn hơn!!!”

Tôi vẫn thấy mình còn nợ đất nước đó một cái gì! Một món nợ tình cảm thật thiêng liêng. Và cả thế giới cũng có món nợ đó. Thế giới đã học được ở người dân Nhật Bản tính can cường chống chọi với khó khăn trong tai họa, sự chịu đựng nghịch cảnh và tinh thần thượng tôn luật pháp. Trên cả những điều đó, là tấm lòng nhân ái, hy sinh. Họ nuốt nỗi đau của riêng mình vào tận trong sâu thẳm của tâm hồn để an ủi người khác, để cùng đối diện với hậu quả tang thương. Và nếu cần, họ cũng sẽ can đảm hy sinh để cho người khác được sống an toàn.

Trong những lúc dán mắt lên màn hình TV tìm kiếm, tôi như đã bắt gặp vô số những em gái Aika, em gái hao hao giống tôi như người chị em của kiếp nào. Em đang bước trên đống đổ nát, tìm kiếm người thân, tìm kiếm những vật dụng hay đồ kỷ niệm của gia đình. Đôi mắt em tròn quá tròn! Tôi cũng đã bắt gặp nhiều lắm, những Masayuki đang ra sức dọn dẹp những mảnh vỡ nhà cửa, những bùn đất di tích của làn sóng dữ để lại. Anh không phải đi Nepal. Nơi mảnh đất của tổ tiên anh, anh đã đắc đạo.

Cô giáo Taylor Anderson, cư dân của Virginia Hoa Kỳ, đến Nhật Bản dạy Anh văn trong ba năm tại các trường tiểu học của thành phố Ishinomaki, tỉnh Miyagi, một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất ở phía đông bắc Nhật Bản. Người ta nhìn thấy cô Taylor lần cuối ngay sau khi động đất ngày 11 tháng 3 năm 2011 xảy ra, cô đã nán lại để giao hết học sinh vào tay cha mẹ các em rồi mới yên tâm lên xe đạp chạy đi. Cô đã hy sinh trong trận sóng thần. Còn bao nhiêu người nữa đã đến Nhật Bản đóng góp và sẻ chia. Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ và những cơ quan từ thiện khác cũng sẽ làm nhiệm vụ nhân đạo, giúp đỡ cho người Nhật Bản.

Dưới mái nhà chung, trên nền đất chung là trái đất này, số phận chúng ta gắn liền với nhau như trong một vòng tròn sinh tử. Nếu tin là con người có nhiều “kiếp”, tôi sẽ tưởng tượng trong một kiếp nào đó có thể tôi đã từng mang thân phận một người phụ nữ chưa hề được nhìn thấy trọn vẹn ánh ban mai vì từ đầu đến chân bị che kín, chưa hề được bước chân đến trường hay vào rạp hát. Cũng có thể ở một kiếp nào tôi sẽ là em bé Phi châu lem luốc sống trong một bộ tộc ít ai biết tới, ngày ngày chơi đùa với bầy thú trên sa mạc. Một kiếp nào nữa tôi và em Aika sẽ là hai chị em ruột trong một mái gia đình. Tôi cầu nguyện cho linh hồn của những người bị sóng thần cuốn trôi ra biển một ngày nào đó sẽ trở lại làm người dân sống trên mảnh đất xinh đẹp của họ, nhìn thấy một đất nước Nhật Bản rực rỡ tốt đẹp và an lành hơn nhiều. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho một Nhật Bản luôn luôn mạnh mẽ, và cho tất cả những người trên thế giới này được có một trái đất bình yên.

Thay cho chữ ký:

Help Japan
http://news.yahoo.com/s/yblog_newsroom/20110311/wl_yblog_newsroom/japan-earthquake-and-tsunami-how-to-help



alt


 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

March 27, 2011