Những bài mới nhất

alt

 

Ngày xưa có một con bé thích ngồi ở chân cầu thang. Học bài, làm bài, viết thư, viết truyện. Bé không thích ngồi ở bàn. Vì không hiểu sao ở nơi chân cầu thang có một sức gây cảm hứng kỳ lạ. Ngay cả mỗi năm, khi đến phút giao thừa, bé cũng ngồi nơi chân thang để “khai bút”. Khai bút xong, lắng tai nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ đổ, rồi đến tiếng còi tàu hụ xa xa. Ý tứ từ đó cũng tuôn lai láng.

Cái cầu thang, bằng gỗ, thỉnh thoảng kêu cót két, lâu ngày mục dần ở chân. Ba thay bậc cuối cùng bằng một nấc xi-măng. Ngoài đời, mỗi lần lên lớp, cũng giống như mỗi lần chân bé được nâng cao thêm, vững vàng.

Có một khoảng thời gian con bé không còn viết ở chân cầu thang. Đã ra trường, không cần phải học bài, làm bài. Truyện ngắn truyện dài cũng “không có chỗ để đăng”, bé ngừng viết. Ngừng viết gần ba mươi năm.

Sau này, nhà sửa, cái thang gỗ không còn ở vị trí cũ. Có một cái thang mới làm bằng gạch bê-tông, những bậc cấp phủ đá mài. Không còn lo mục. Cũng không sợ mối mọt.

Ba mất.

***

Lâu dần không nhớ đến nơi chân thang. Một hôm, dọn nhà mới, chưa có đủ bàn ghế, người viết ngồi ở cuối cái thang gỗ. Thang có lót thảm. Nhưng những tiếng lòng của thời thơ ấu lại trở về, cót két, cót két, nghe bằng tâm. Nghe cảm động. Ý tứ lại lai láng.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Cuối năm 2012

 

 

alt

 

alt

 

Thân mến chúc quý độc giả và thính giả một Mùa Giáng Sinh An Hòa.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

alt

 

1
     Bé Thơ trở về khi mùa đông gần tàn lụi.

    “Bé Thơ” vẫn được gọi là “Bé” khi về đến mái gia đình. Bởi “Bé” xa nhà đã ba mươi năm, khi còn là một cô nhóc đang học những năm đầu bậc trung học. Mà không riêng gì Bé Thơ, hầu như mỗi cô cậu nhóc trong khu xóm này đều có một cái tên để gọi ở nhà. Tên Bé Thơ là còn đẹp đấy, vì Thơ là tên đi học. Có một số đứa tên Xí, tên Tèo, tên Tí, tên Cu… nghe thì tức cười và không ai muốn được gọi bằng những cái tên đó khi lớn lên vì mắc cỡ. Bé Thơ, tên gọi ở nhà, đã thành một chữ kép. Và cái tên đó nghe không mắc cỡ.
Anh chị Danh đón Bé Thơ về nhà ngay bằng chiếc xe Simca cà tàng, loại thịnh hành từ trước năm 75. Không có máy điều hòa, chỉ có chiếc quạt máy nhỏ xíu gắn ngay bên hông tài xế làm mát cho cả xe. Nhưng không cần mở chiếc quạt này, vì trời đang là cuối đông, và không khí lúc càng lên cao càng mát lạnh. Bé Thơ đang về lại nhà xưa.


     Sương mù! Sương mù đầy cả! Bé Thơ reo lên như đứa con nít. Đã lâu không được hưởng cái cảm giác đi trong sương mù. Bé Thơ nhớ có những khi anh Danh gò lưng đạp xe đạp chở Bé đi học, lên con dốc cao, bỗng anh phải dừng lại vì sương mù từ đâu ập tới làm anh không thấy đường. Sương mù những ngày mùa đông như đám bông gòn xốp, vây lấy hai anh em. Thế là Bé Thơ tha hồ tóm lấy, mà tóm có được đâu! Sương mù lại bay đi nơi khác rất nhanh.

     Nhà xưa đây rồi! Căn nhà nhỏ ở giữa một con dốc rất đẹp. Căn nhà thuở ấu thơ của anh em mình đây, không thay đổi bao nhiêu. Chỉ có một điều mới, đó là phía trước có thêm một lò gốm. Anh Danh bảo gọi là “lò gốm” cho oai chứ đó chỉ là một cái lò gốm mi-ni, lò gốm tí hon, anh chị chỉ sản xuất những món đồ trang trí chứ không có sức để làm ra những hũ bình lu khạp to lớn. Bé Thơ reo lên khi trông thấy những bức tượng búp bê, những con thú, những đồ chơi đủ loại dành cho con nít. Anh Danh hẳn đã có một cách sinh sống khá an nhàn. Nhưng hay hơn hết, là anh đang sống với cái thế giới trẻ thơ do anh tự tạo ra.


Và đây rồi! Những thiên thần bằng sành!
     Bé Thơ òa khóc. Những thiên thần nhỏ nhắn xếp tăm tắp bên nhau, anh Danh sắp đầy trong một cái tủ. Không phải là hai mươi, mà dễ có đến mấy trăm. Bé Thơ thương anh Danh quá! Ngày xưa, ngày Bé Thơ còn là đứa bé con sắp “tốt nghiệp mẫu giáo”, anh Danh đã làm cho Bé những thiên thần bằng sành. Hai mươi thiên thần. Đúng số tuổi hai mươi của anh. Số tuổi quá đẹp của đời người. Anh đã vội vàng bỏ Bé mà đi trong một buổi sớm mùa đông. Bé thức dậy reo vui khi thấy những thiên thần mơ ước của mình. Một mảnh giấy đặt bên cạnh những thiên thần đó với nét chữ của anh Danh: “Anh là Ông Già Nô-en, đêm nay đến tặng cho bé Thơ món quà này. Ông Già Nô-en hết tiền, nên chỉ cho bé hai mươi thiên thần bằng sành. Cho bé ngoan mãi”. Anh đã đi thật sớm. Đã đến ngày anh đi rồi! Tượng thiên thần thứ hai mươi chưa hoàn thành. Có một cái cánh gắn chưa kỹ vào vai. Dù thế, Bé vẫn cho nó nhập bọn với những tượng kia. Bé sắp cho các thiên thần đứng chung với nhau thành một dãy dài trên bàn học. Bé ngắm những đồ chơi đó và mỉm cười một mình. Tự nhiên Bé thấy nhớ anh Danh kỳ lạ. Khi đó anh đang đi ở một nơi nào. Anh không có mặt ở nhà để thấy Bé vui với những thiên thần nhỏ. Anh đi xa rồi! Bé phải đi học với chị Thi. Và những hôm chị Thi bận, Bé phải đi học một mình. Bé leo về con dốc cao, đường có nhiều hoa Cúc, dừng lại một chốc ở trước lò gốm. Người ta đang tiếp tục làm những chén đĩa hũ bình, phơi đầy sân và chờ đem bán. Lúc đó Bé muốn reo lên cho người ta biết rằng chưa có ai nghĩ ra việc làm những thiên thần bằng sành cho trẻ nhỏ. Chỉ có anh của Bé mới làm được mà thôi. Người ta sẽ hỏi rằng anh của Bé là thợ trong lò gốm, là họa sĩ hay là nhà điêu khắc? Bé sẽ đáp rằng anh của Bé chỉ là một người biết đạp xe đạp chở em đi học và biết mua kẹo cho em ăn. Kỷ niệm của anh Danh và Bé là đó!..
- Bé Thơ! Nín đi! Bây giờ Bé không cần ao ước nữa nhưng cũng có đến mấy trăm thiên thần. Bao nhiêu năm qua, cứ đến Nô-en thì anh lại ra sức làm những thiên thần bằng sành cho Bé, nghĩ đến một ngày Bé trở lại, Bé sẽ được vui với món quà này.
- Anh Danh, Bé cám ơn anh.
-Anh em mình mà!
-Anh Danh, ngày xưa mỗi năm nhận được quà Nô-en, Bé chỉ nói cám ơn Ông Già Nô-en mà không cám ơn anh. Bây giờ Bé phải nói cám ơn anh mấy chục lần. Nhiều thiên thần quá, Bé chắc phải đóng đến năm bảy thùng để đem đi đó!
Hai anh em ôn lại những kỷ niệm xưa tưởng chừng vô tận.

2
     Anh Danh dẫn Bé Thơ đi thăm “lò gốm” của anh, cái lò gốm chỉ làm toàn những đồ chơi và hàng trang trí. Anh nói như mơ màng trở về kỷ niệm:
- Bé Thơ biết không, ngày xưa anh nặn tượng thiên thần tặng Bé, vì là thợ gốm “tay ngang” nên không để ý rằng đồ sành sứ phải được nung lên thì nó mới bền chắc, nếu không thì sẽ nứt gãy. Cái lò gốm này, tuy “mi-ni” nhưng anh theo rất đúng quy trình của một nơi sản xuất gốm nhà nghề. Anh học một ông thầy tốt, truyền hết kinh nghiệm cho anh, và cũng là người giúp anh xây dựng cơ ngơi này, nhờ đó anh chị không đến nỗi chết đói. Hai vợ chồng làm lụng nuôi nhau, thế là vui.
- Bé cũng vui vì anh chọn ở lại và… không bị đói.
- Trời thương anh, Bé ạ! Ngày đó khi ba má dẫn các em đi, anh chọn ở lại vì không muốn mình trở thành gánh nặng cho gia đình trên bước đường vượt thoát và cả lúc về sau. Anh biết mình sẽ gặp khó khăn rất nhiều vì ở lại anh không được ai giúp đỡ hết. May mắn anh đã gặp chị, người con gái mồ côi trong chiến tranh, anh chị sống nương cậy nhau và lập nên cái lò gốm nhỏ này. Chị giúp anh rất nhiều đó! Trong những năm tháng đầu tiên, chị lái xe gắn máy đi chở đất về cho anh làm. Bây giờ anh chị sắm được chiếc Simca cà tàng của một gia đình đi định cư bán rẻ lại nên… anh lái. Mất một chân thì không được lái xe gắn máy nhưng được lái xe hơi, Bé thấy vui không?


    Bé Thơ nghẹn ngào nhìn chân anh Danh, cái chân đã mất. Anh Danh mất chân trên chiến trường sau ngày ký Hiệp định Paris năm 73. Cánh Dù đã rơi. Thiên thần Mũ Đỏ trở thành phế binh sau ngày “hòa bình” vì chiến tranh vẫn còn tiếp diễn. Cái ngày anh Danh trở về với cái chân đã mất, anh nói rằng anh không thể đạp xe chở Bé Thơ đi học được nữa. Bé đã khóc ròng vì thấy thiên thần phải chịu đớn đau. Chiếc xe đạp ngày xưa anh còn giữ trong cái kho sau nhà. Sườn xe, dây xích, “ghi-đông” đã rỉ sét hết. Hai bánh xe xẹp lép. Chỉ còn giữ lại những tiếng quay đều như reo vui khi Bé Thơ quay chiếc bàn đạp ngược chiều. Hai anh em theo tiếng quay đều ấy ngược về kỷ niệm.


    Và họ cùng bắt tay vào nặn tượng những thiên thần. Ngày xưa anh Danh đạp xe đi xin đất ở lò gốm, về nắn tượng, tô mầu, và thế là xong. Ngày nay đã trở thành thợ “nhà nghề”, anh Danh chọn mua đất sét thật tốt, khi muốn làm thì phải đập đất nhỏ ra, phun nước vào đất sét, nhào trộn rồi ủ qua một đêm, hôm sau mới đem ra, trộn đất với cát mịn rồi nhào cho nhuyễn trước khi nắn tượng. Nắn tượng thành hình dáng xong anh lại mang phơi dưới nắng một buổi cho khô bớt, rồi nhúng men, để khô, vẽ trang trí, rồi lại phơi nữa cho khô hẳn rồi mang đi nung. Bé Thơ biết làm giống như anh rồi! Bây giờ những sản phẩm đủ loại của anh, từ con heo “tiết kiệm”, cái tráp đựng nữ trang, cái hũ đựng tiêu hay muối cho đến những cái lọ đựng bút, những chiếc bình cắm hoa trang nhã… sẽ trở thành quà để các Ông Bà Già Nô-en mua về cho trẻ con. Những hang đá Giáng Sinh sẽ vui lên với các thiên thần nhỏ. Bé Thơ sẽ hưởng một mùa Giáng Sinh đầy yêu thương nơi này.

3
   Mấy anh chị em đi mua đất sét, tiện thể anh Danh thăm một người bạn đồng ngũ lâu ngày không gặp, sống ở khu vực gần đó. Anh và chị thay nhau lái xe, còn Bé Thơ thì không, chẳng là anh Danh đã bảo Bé Thơ “về đây là phải treo cái bằng lái lên giàn bếp”.

   Đi ra khỏi thành phố sương mù, mới thấy cả một vùng đất bao la. Thuở nhỏ Bé Thơ nào biết quê hương rộng như vậy. Những con đường dốc đầy đất đỏ trơn trợt, những hàng rào hoa quỳ nở vàng rực trong ngày đông, những buổi trời mưa giăng kín, những sáng sương mù mờ ảo, đó là “quê hương” trong tầm mắt của cô bé. Trở về quê hương sau nhiều năm xa cách, Bé Thơ tự hứa sẽ tìm thấy lại một quê hương to tát hơn, thoáng đạt hơn. Bé Thơ sẽ viết một ký sự về vùng đất này.

   Đến nhà người bạn ở huyện Bảo Lâm, anh Danh thất vọng. Người bạn đã dọn đi. Anh đứng lại hỏi thăm. Những nhà hàng xóm cũng đang rục rịch dọn đi. Đi đâu? Họ tỏa ra nhiều phương hướng, nhường vùng đất này cho một dự án lớn. Ở đây làm sao sống?! Hoa màu do họ trồng trọt làm ra, cà phê và chè, đã bị nhiễm độc. Họ lắc đầu ngao ngán. Mấy anh chị em lên xe đi về hướng dự án đang thực hiện. Và chỉ được đứng ngó từ xa. Đây rồi, quê hương to tát của Bé Thơ! Một thung lũng hiện ra đỏ rực. Dưới đó, những chiếc xe lu, những chiếc máy gạt, máy xúc, xe chạy đất… hoạt động rì rầm, trông xa nhỏ như những chiếc hộp diêm. Chúng đang làm những công việc cuối cùng trong việc xây dựng hồ bùn đỏ!

    Mấy anh chị em đứng chết sững. Một quê hương bị tàn phá. Đất thịt đang bị cày xới để bán đi. Màu đỏ của những con đường thơ mộng cũng là màu đỏ của “tài nguyên” đang bị bán. Bauxite!!! Mai đây bùn đỏ sẽ theo những vết rò rỉ tràn ra đầy cả vùng đất dân cư đang sinh sống. Cây cối sẽ chết. Con người sẽ phải bỏ chạy. Những điều Bé Thơ chỉ nghe, bây giờ hiện ra rất rõ trước mắt. Những tiếng động cơ từ xa vẫn vang vọng thấu óc. Đất đỏ màu máu nhức nhối như chảy ra từ tim.

4
    Mùa đông sẽ tàn lụi, Bé Thơ biết như thế. Cả những cơn gió lạnh rồi cũng sẽ không còn. Còn một thứ vui thích của Bé ngày xưa là được nhận những món quà của “Ông Già Nô-en” cũng không còn nữa. Bé Thơ đã lớn, đã làm Ông Già Nô-en cho những đứa con của mình. Nhưng ý nghĩa của Lễ Giáng Sinh bao giờ cũng trọn vẹn. Vì Bé biết trong những ngày chuẩn bị cho Giáng Sinh, những thiên thần nhỏ từ bàn tay anh Danh và Bé làm ra sẽ đến với các hang đá của thành phố này, trong những căn nhà nhỏ xinh xắn ở phố chợ, nơi ven đồi, hay bên bờ suối. Cho dù là ven đồi loang lổ vì bị cạo gọt cày xới, hay bờ suối nhem nhuốc uế nhiễm vì con người vô tâm, những người dân của xứ sở mù sương này vẫn là những con người thuần hậu. Cho dù những con đường sạch sẽ trong thành phố một thời thanh lịch đã được thay bằng những con phố rộng lớn nhưng lề đường bình an cho khách bộ hành lại chỉ còn dành cho xe cộ quán sá, người dân cũng biết co lại để tự bảo vệ lấy những gì tốt đẹp xưa của mình. Cho dù những ngôn từ lạ lẫm dùng tiếng lóng làm nền có tràn ngập trong sinh hoạt, người dân hiền lành cũng biết dạy cho con em mình những ngôn ngữ hiền hòa một thời làm nên phong cách của họ. Nhưng tội nghiệp lắm, mỏng manh lắm, cái sức đề kháng âm thầm đó!

    Bé Thơ dành nhiều thời gian để đi thu nhặt hình ảnh về “quê hương to tát” của mình. Bé vẫn sẽ viết một ký sự. Nhưng chắc là ký sự này sẽ không thơ mộng một chút nào. Ký sự sẽ nói thật rõ về những vùng-đất-thịt bị cày xới bán rẻ cho ngoại bang, về những người dân hiền lành bỗng chốc thấy mình xa lạ trên chính quê hương của mình.
Anh Danh thì lại có thêm một suy nghĩ mới: anh đang nghiên cứu làm ra những đất sét màu, không độc hại, dành cho các học trò mẫu giáo và tiểu học. Anh nói người ngoại quốc qua mua đất sét của nước mình về làm ra đất sét màu rồi bán lại cho mình để dùng trong trường học. Một thời tuổi thơ của anh đã trôi qua, anh muốn làm chút gì để đền lại cho người khác.
Những ngày đông đã tàn lụi. Lễ Giáng Sinh trôi qua êm đềm. Ông Già Nô-en được Bé Thơ cám ơn đến một trăm lần. Tượng thiên thần gãy cánh năm xưa anh Danh làm vội trước khi ra lại vùng hành quân đã được hàn gắn kỹ chiếc cánh gãy vào vai và được phủ thêm một lớp men sáng bóng. Bé Thơ phải đi.

5
     Bé Thơ đứng trong phi trường San Francisco. Bé đã dặn người nhà đừng đón, vì Bé sẽ đến ngay tòa báo. Bé muốn làm việc ngay trước khi trời tối rồi sẽ về nhà. Bao nhiêu năm nay vẫn vậy. Cô bé có cái số di chuyển đã không ngừng nghỉ dù ở trong hoàn cảnh, trong công việc nào, đến đâu là bắt tay làm việc ngay nơi đó.
Bé Thơ vào taxi. Chiếc xe chở Bé đi lên phố, rồi qua cầu Golden Gate. Bé hít một hơi dài như tìm chút thoải mái. Bé ngoẹo đầu định lim dim mắt nghỉ một chút. Nhưng kìa! Trên phần đường nhỏ sát thành cầu dành cho xe đạp và khách bộ hành, có hai anh em chở nhau trên chiếc xe đạp. Bé Thơ nhỏm dậy nhìn. Xem chừng lúc này trời đang gió khá mạnh. Đứa anh gò lưng đạp, trông hơi khó khăn giống như người ta đang đạp xe lên dốc. Đàng sau, đứa em gái nhỏ nhắn ôm chặt lấy anh.


    Rồi bỗng đâu một đám sương mù cuồn cuộn bay tới. Đám sương mù vây lấy hai anh em. Và không thấy rõ họ nữa…
Thảng thốt, Bé Thơ lấy điện thoại ra, gọi về anh Danh. Đầu bên kia anh Danh hỏi:
- Bé Thơ?
- Dạ, anh Danh…
- Bé đã đến nơi?
- Dạ.
- An toàn hả Bé?
- Dạ…Anh Danh ơi!
- Sao Bé?
- Anh Danh ơi, Bé nhớ anh lắm!
Rồi Bé Thơ bật khóc. Sương mù vẫn che kín hai anh em đang đạp xe trên cầu. Bên kia, anh Danh hẳn đang nghe Bé sụt sùi. Giọng anh nhẹ nhàng, ấm áp:
-    Bé Thơ, đừng khóc. Những thiên thần Bé đem theo về đó, chúng có những đôi cánh vững vàng, hãy cho chúng bay cao, bay cao lên mãi, Bé nhớ nhé!
-    Dạ, Bé sẽ nhớ. Anh Danh ơi! Bé nhớ nhà của mình. Bé nhớ quê của mình.
- Nhớ quê của mình, Bé nhớ câu gì anh em mình nói với nhau không?
- Bé nhớ. “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperriem, Give Pleasure to Some and Freshness to Others”, câu của ông Yersin lấy làm tên cho Đà Lạt của mình.
- Phải rồi, Bé. “Cho người này niềm vui, cho người kia sự mát lành”.

 

alt

 

Giáng Sinh 2011


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư Quán Bản Thảo, Số 49, Tháng 12, 2011

 

 

alt

 

Ba nhắc tôi:
- Mặc nhiều áo vào con ạ! Trời lạnh lắm đó!
- Dạ.
Tôi “dạ” rồi lẳng lặng vào lấy thêm áo khoác. Hai cha con ra xe. Như một công việc quá quen thuộc hàng ngày, Ba đưa tôi đến trường. Trường học chỉ cách nhà tôi ba “block”, nhưng Ba vẫn đưa tôi đi, Ba không muốn tôi phải co ro trong tiết trời lạnh lẽo này nếu tôi đi bộ.

Đến trường, hai cha con nói “Bye” với nhau thật ngắn gọn. Ba lái xe đi. Mười tiếng đồng hồ nữa tôi mới gặp lại Ba. Bỗng nhiên hôm nay tôi dừng lại một chút ở cổng trường, ngoái nhìn theo Ba. Tôi không kịp thấy gì ngoài cái đuôi xe màu xám bạc. Rồi tôi liên tưởng đến màu trắng xám trên mái tóc của Ba. Một cách không cố ý, hai bàn tay của tôi nắm chặt lại. Tôi nghe tiếng thở dài của mình. Tôi bước theo đám học sinh, vào trường.

Giờ ăn trưa, trong khi các bạn xúm xít với nhau bàn chuyện lễ Giáng Sinh, tôi lặng lẽ đến ngồi ở một góc vắng. Tôi phải len lén chứ không thì chẳng yên thân với tụi nhóc. Thật ra thì khi tôi học hành, vui chơi cùng các bạn, tôi cũng là một cô học trò linh hoạt lắm. Nhưng khi ngồi yên tĩnh một mình, tôi như sống bằng một phần già dặn của chính tôi. Mấy đứa bạn thân không cần tinh ý gì cả cũng biết là tôi buồn vì không được sống gần mẹ. Nhưng tụi nó không muốn nói nhiều về điều đó nên thường để tôi một mình khi thấy tôi cần như thế. Dù sao, ở cái tuổi mười lăm như chúng tôi đây, cũng đã mang một chút gì “người lớn” trong cách suy nghĩ và xử sự.

Nhưng tôi còn có Ba. Ba cũng thương tôi lắm, chăm sóc tôi không thua một ông bố nào mà tôi biết. Ba đưa đón tôi đi học, giúp tôi làm bài, chở tôi đi chơi, đi mua sắm, thật như kiêm luôn cả phần việc của một người mẹ nữa. May là tôi cũng đã lớn, chứ không thì còn được Ba bồng bế, dỗ dành và ru ngủ nữa. Tôi cảm nhận được hết cái tình trìu mến của Ba. Tôi không đòi hỏi gì hơn. Nhưng tôi thấy rất rõ, giữa Ba và tôi vẫn có một khoảng cách. Vì tôi là con gái chăng? Không đúng. Mà có lẽ cái khoảng cách ấy chính là sự thiếu vắng của Mẹ.

Ở trường chúng tôi ăn cùng một thực đơn như nhau. Những thức ăn nhà trường cung cấp là quá đủ cho chúng tôi. Nhưng bạn tôi hầu như ai cũng có một chút gì mẹ chuẩn bị cho đem theo ăn thêm. Tôi thì không. Đó cũng là điểm khác biệt. Có khi tôi cũng được chia những thức ăn “phụ trội” đó. Tôi thưởng thức mà không suy nghĩ. Nhưng cũng có khi vì đó mà buồn.

Bữa ăn tối, thường thì hai cha con cùng nhau nấu nướng. Nhưng có những lúc tôi sắp thi, ba tôi lại giành nấu một mình. Có khi lười quá Ba lại lái xe ra ngoài để mua “cơm chỉ”. Mà ở đây lại là “cơm chỉ” của Mỹ. Mấy món ăn của tiệm “cơm chỉ” cũng ngon nhưng nhiều chất béo quá. Tôi là con gái nên sợ béo. Tôi không dám chê, nhưng hay len lén nhìn Ba. Tôi thấy Ba không lộ vẻ gì, nhưng khen thì Ba cũng không khen.

Đêm thì hai cha con hai phòng sát bên nhau nhưng tôi thường đi ngủ trước. Ba ngồi làm việc hay xem ti-vi một mình rồi Ba đi ngủ hồi nào tôi không hay. Và đó là xong một ngày của hai cha con. Cuộc sống có vẻ đơn điệu quá phải không?

***

Chiều nay tôi đi bộ về một mình vì Ba tôi làm thêm giờ. Tôi đi một đoạn ngắn với nhỏ Tina rồi chúng tôi chia tay ở trước nhà nó. Đi đến chỗ cây sồi to, tôi dừng lại và giật mình khi nhớ đến một chuyện đã khá lâu rồi, khi tôi mới bốn tuổi. Lúc đó Ba đi làm xa nên Mẹ là người đón tôi. Tôi được ngồi trong xe ấm áp nhưng tôi lại đưa mắt thèm thuồng nhìn các bạn đi bộ ngoài đường. Tôi buột miệng hỏi Mẹ:
- Mẹ ơi! Sao mẹ không cho con đi một mình như các bạn ấy?
Mẹ cười:
- Nhà các bạn ấy ở gần hơn nhà mình. Có bạn thì cha mẹ đi làm hết nên bạn đi một mình. Con sung sướng có mẹ đưa đón mà con không vui sao?
- Con… con cũng thích đi bộ một mình giống như các bạn.
Mẹ lắc đầu:
- Con xem bạn Dalena kìa! Nó phải đi một mình vì mẹ nó mất rồi!
Tôi im lặng. Bỗng tôi lẩm bẩm thật nhỏ tưởng mẹ không nghe:
- Bạn ấy vậy mà sướng!
Nhưng Chúa ơi! Mẹ lại nghe rất rõ. Mẹ lái xe tấp vội vàng vào ven đường, nơi có cây sồi to tướng này. Mẹ thắng xe “két” một cái nghe chói tai, rồi Mẹ đưa hai tay ôm lấy đầu. Mẹ khóc nức nghẹn không thành tiếng. Tôi hoảng sợ, bật khóc theo và xin lỗi mẹ rối rít. Sau này, tôi có dịp tâm sự cùng cô giáo dạy môn English, tôi được cô cho biết là có rất nhiều bạn nhỏ cùng suy nghĩ như tôi vì muốn chứng tỏ mình độc lập. Cô khuyên tôi đừng buồn. Nhưng tôi vẫn thỉnh thoảng nhớ lại chuyện ấy và có tâm trạng mình đã làm lỗi với mẹ.
Tôi rẽ vào cái ngõ cụt của nhà tôi. Hai cha con, hai chìa khóa riêng, tôi không phải lo. Tôi nhìn một lượt vòng quanh những nhà hàng xóm, cảm thấy không khí xung quanh có chút rộn ràng. Kìa! Đèn hoa và các vật trang trí trước những ngôi nhà đã đầy cả rồi!

Tôi mở khóa, bước vào nhà. Tôi đã quen với cái tĩnh mịch của căn nhà mình sống. Tôi quen dọn dẹp nhà cửa mỗi khi về đến, và nấu thức ăn cho hai cha con. Tôi dừng lại trước tủ lạnh, ngắm những tấm ảnh gia đình tôi đã đính thật nhiều trên cánh cửa bằng những miếng hình có nam châm đủ màu sắc lưu dấu những danh lam thắng cảnh. Như một thói quen không thể thiếu mỗi ngày, tôi mỉm cười chào những người trong hình: Ba, Mẹ và tôi.

***

Ba mang về một cây thông Giáng sinh. Đó là một cây thông giả. Nhà tôi đã bỏ hẳn lệ chưng cây thông thật từ khi tôi phát sinh chứng bệnh dị ứng với mùi nhựa thông. Cây thông giả của những năm trước, sau khi dùng đi dùng lại đã cũ nên Ba muốn mua cây mới. Khi Ba nhờ tôi phụ để lắp nó, tôi rất ngạc nhiên nhận ra đó là một cây thông có lá màu bạc. Toàn cây cũng là màu bạc. Tôi thắc mắc:
- Sao lại là màu bạc hở Ba?
- Đó là màu đặc biệt nhất đó con. Màu xanh thì mình đã biết từ bao lâu nay rồi!
- Nhưng con thấy cái cây thông màu bạc thì trông không vui.
- Ba sẽ trang trí những đốm tuyết trắng, rồi treo đèn kết hoa lên thì vui ngay.
- Con không thích. Thông là cây evergreen, làm sao mất màu xanh được? Con nghĩ nhà sản xuất cây này có tâm tính hơi khác thường, làm ra cái chuyện không đúng sự thật.
Ba nghe tôi chê thẳng thừng thì tỏ vẻ thất vọng. Nhưng Ba vẫn cố thuyết phục tôi:
- Con nhìn một lát sẽ thấy đẹp.
- Đẹp gì? Con nghĩ đó chỉ là tự ép buộc mình thôi. Con không quen nhìn màu bạc này trên một cái cây lẽ ra phải xanh.
- Con thật khó tính!
Nghe Ba nói hơi gắt, tôi bỗng khựng lại. Cảm giác khó chịu làm tôi bỏ đi vào bếp. Tôi nghĩ Ba không để ý đến con gái mình nghĩ gì, Ba “theo thời”, và chắc chắn là cái cây thông này phải mắc tiền hơn những cây thông “cổ điển” lâu nay.

Ba thấy tôi giận, nên đi vào gợi chuyện:
- Sao? Tối nay con gái cho Ba ăn món gì?
Tôi đáp nhẹ:
- Như mọi ngày thôi Ba!
- Vậy tốt rồi! Ba chỉ mong một ngày như mọi ngày.
Tôi kịp nghe tiếng Ba thở dài thật nhỏ. Tôi thấy hơi hối hận vì mình đã hờn mát với Ba. Tôi đang suy nghĩ một câu nói đùa để chọc Ba cười, thì có tiếng chuông điện thoại reo. Ba đi bắt máy. Tôi nghe loáng thoáng nhưng đoán được ngay điện thoại từ đâu. Ba nghe điện thoại xong, đến gần bên tôi, và không đợi tôi hỏi, Ba nói:
- Cô y tá nói Mẹ không còn đập phá, nhưng đã hai ngày nay bỏ ăn, không nói gì, chỉ ngồi ủ rủ trong một góc.

***

Mấy hôm nay buổi chiều tôi phải đi bộ về nhà một mình, vì Ba sau khi tan sở đã ghé bệnh viện thăm Mẹ, thật tối Ba mới về. Tôi cũng chuẩn bị cơm chờ Ba về rồi hai cha con cùng ăn. Tôi không thể thăm Mẹ hàng ngày như Ba được, mà phải chờ đến cuối tuần, vì Ba muốn tôi có đủ thời gian để làm bài. Mà đã bao năm nay vẫn là như vậy rồi. Chỉ khi nào Mẹ có những biểu hiện khác thường thì Ba mới vào thăm mỗi ngày, ngoài ra hai cha con chỉ vào thăm Mẹ mỗi cuối tuần. Thời gian đầu, khi Mẹ phải ở lại bệnh viện như một bệnh nhân nội trú, Ba như phát điên lên. Mãi sau, Ba đành phải chấp nhận sự thật: Mẹ không thể chung sống với gia đình như những người phụ nữ bình thường được nữa. Căn bệnh tâm thần của Mẹ đã quá nặng! Đứa con gái cần có người mẹ để chia xẻ, hướng dẫn và giúp đỡ nhiều nhất, đã phải chấp nhận sống xa mẹ. Vâng, tôi cũng đã phải chấp nhận sự thật đó. Cho đến bây giờ, tôi nhìn lại vẫn cảm thấy tủi thân ghê gớm. Ba là đàn ông, có thương con đến mấy cũng khó có thể hiểu thấu và chia sớt cùng con.

Tối nay tôi đã tận dụng thời gian Ba chưa về để làm xong bài tập Toán. Tôi được rảnh rồi! Chỉ còn chờ Ba về là ăn cơm thôi, cũng hơi trễ một chút nhưng hai cha con còn có thời gian để xem một phim gì đó trên ti-vi. A! Tôi bỗng thấy mình có việc làm, khi nhìn qua phòng khách, cây Giáng sinh chưa được trang hoàng gì cả. Ba quá bận rộn mà! Tôi sẽ làm cho Ba có chút ngạc nhiên chứ? Con gái Ba sẽ được khen là giỏi. Tôi tủm tỉm cười và đi sang đó. Trong khi soạn những hộp đựng đồ trang trí cho cây thông, tôi liếc nhìn qua góc làm việc của Ba, bỗng thấy trên bàn chiếc máy computer chưa tắt. Ba hẳn đã ngủ gà ngủ gật ở đây đêm hôm qua ư? Ba lại mê viết lách chi đây? Ba thật là người tham công tiếc việc! Từ bao lâu nay Ba vẫn mê công việc như thế. Phải tắt máy giùm Ba thôi. Tôi chạm nhẹ nút “enter”. Màn hình hiện lên một trang đang viết dở. Không phải là những khung tài liệu “excel” như thường lệ, mà toàn những chữ, như một bài văn. Dòng chữ đầu tiên đập vào mắt tôi: “Anh rất ân hận…”

***

“Em! Anh rất ân hận vì đã không biết trân quý em. Mọi cái anh đều coi như chuyện đương nhiên là như vậy. Đến bây giờ, khi gặm nhấm nỗi nhớ ray rứt, đối diện với sự cô đơn, anh hiểu thế nào là sự thống khổ. Anh không dám để lộ cho con biết, dù với sự tinh tế của con, nó sẽ dễ dàng lắng nghe lời anh thố lộ.

Ngày trước, khi em mỗi tháng tay xách nách mang đi thăm nuôi anh, anh đã thương em biết bao! Mỗi lúc nhìn em quay lưng đi và chìm cái dáng gầy gò nhẫn nhục trong dòng người, anh ứa nước mắt tự nhủ “Nếu được trở về, tôi sẽ làm mọi cái để cho vợ tôi được hạnh phúc”.

Bao nhiêu gian nan rồi cũng vượt qua được một cách kỳ diệu. Sang bên này, mọi cái bỗng không được như mình nghĩ. Anh và em phải đi làm cật lực mới đủ sống. Mình đã không dám sinh con. Dù chưa đến nỗi như cảnh hai vợ chồng trong một câu chuyện mình đọc được trên báo: họ chỉ gặp nhau ở trạm xăng, khi người vợ làm ca đêm trở về và người chồng bắt đầu đi làm buổi sáng, nhưng anh và em cũng không có nhiều thời gian dành cho nhau. Khi anh chọn được một công việc vừa ý, hợp với khả năng của mình, anh đã đam mê công việc nhiều hơn là nghĩ đến em. Mỗi ngày mình trở về từ hãng, em lủi thủi làm bếp, và anh ngồi miệt mài với những giấy tờ của sở. Có hôm nghe tiếng em xuýt xoa vì bị dao cắt trúng tay, anh ngồi bên này hỏi vọng sang “Em có sao không?”, rồi nghe em trả lời “Không sao”, anh lại tiếp tục công việc của mình. Cho đến mấy ngày hôm sau, thấy em đi bác sĩ, anh mới biết là vết thương khá sâu trên ngón tay em bị làm độc. Ôi anh thật là hời hợt! Thế mà rồi đâu cũng vào đấy. Một lần đến chơi nhà bà con, em bưng tô phở nóng sôi bị vấp té. Anh thấy các bà các chị xúm lại giúp em, anh đã không theo em vào phòng để xem vết phỏng, và anh vẫn chén chú chén anh với mấy người đàn ông. Ngày qua ngày, anh càng tỏ ra là một người không quan tâm đến em khi anh quá ỷ lại vào những người xung quanh.

Những chuyện đó có người sẽ cho là rất nhỏ, nhưng trong nỗi ân hận của anh, chúng lại trở thành ray rứt vô cùng. Ôi, anh ước gì ngay bây giờ em đang có trước mặt anh để nghe anh xin lỗi. Anh đã phạm một tội lỗi mà chính anh không tha thứ cho mình, đó là anh đã quên mất căn bệnh của em. Ngày anh quen em, anh đã rất xót xa vì biết em mang một tâm bệnh. Phần vì em có mang một tính di truyền, trong dòng họ của em đã có người cậu bị bệnh tâm thần, phần vì em là một sinh viên rất đam mê học hành. Em đặt hết tâm trí vào việc học, em luôn muốn được đậu cao. Đậu cao! Hầu như cái thời của mình ai cũng mơ đậu cao. Nhưng em đã bị tác dụng của sự đam mê ấy làm mất quân bình. Cuối năm thứ nhất thi hỏng vài môn, em đã phát bệnh. Lúc đó em rất hiền, ngồi bên anh, em bảo em nghe có tiếng người nói thì thầm vào tai, có lúc như có một người khác đang “ở trong em”. Thế thôi! Người nhà đưa em đi chữa thuốc. Sau đó em yên ổn trở lại. Từ sau ngày cưới của mình, em đã như một người hoàn toàn khỏe mạnh…

Em! Một người nào đó đã nói: “Con người ta có thể dũng cảm đương đầu với những sự gian khó, nhưng lại không sống nổi với sự nhàm chán và cô đơn”. Có phải là trường hợp của em đó không? Em rất can trường nhưng em cũng rất yếu đuối. Em rất vững chãi nhưng em dễ ngã quỵ. Anh đã không nghĩ đến điều đó. Thời gian em mang thai, anh cũng không ngờ đến căn bệnh tiềm ẩn của em. Anh tưởng sống vui vẻ với nhau là đủ rồi, thật đơn giản. Ôi anh không thể tưởng tượng được, cái ngày đứa con gái xinh xắn của mình tròn năm tuổi là ngày bệnh của em tái phát. Em biết rõ như vậy nên em rất kềm chế mình. Những lúc em nổi cơn giận dữ thì anh lại không có bên cạnh. Anh ham mê công việc ở hãng và phó thác em cho người được Sở Xã hội gửi đến giúp. Em vì bệnh nên không thể tiếp tục đi làm, trong khi em là người dệt thật nhiều những ước mơ tốt đẹp về sự nghiệp. Điều này tác dụng y như việc trước kia em bị thi hỏng. Và bệnh của em ngày càng nặng thêm.

Mimi được năm tuổi thì mẹ lại phải xa con. Tình trạng của em quá tệ đến nỗi tất cả mọi người, từ bác sĩ đến người thân, đều khuyên anh đưa em vào ở trong bệnh viện để được điều trị thích hợp và cũng để giữ an toàn cho con. Anh không còn cách chọn lựa nào khác. Mỗi lần anh cùng Mimi vào thăm em, anh như thấy em đổi khác một chút. Em cũng trò chuyện, nói cười, nhưng đột nhiên em như chìm vào một cõi xa lạ nào chỉ có mình em biết. Và anh thường dắt con ra về trong một cảm giác hụt hẫng đau đớn. Có phải đó là sự trừng phạt Trời dành cho anh không hở em?

Mười năm qua anh sống trong một cảm giác vô cùng nuối tiếc những ngày chúng ta vui buồn có nhau. Anh cố gắng làm tất cả cho con của mình được sung sướng. Nhưng anh như người lính ra trận không có chiến hữu. Anh không thể tâm sự với em được nữa rồi! Những lúc vào thăm em, nói chuyện với em, anh chỉ là một người ngoại quốc. Có lúc em tỏ vẻ lắng nghe anh rồi bỗng cười phá lên và hỏi “anh nói cái gì?”… Em không còn có thời gian, không gian để chia xẻ cùng anh nữa.

Mấy hôm nay em đã trở bệnh thành một trạng thái khác, không còn khích động hung hăng. Anh vào thăm, thấy em ngồi im lìm trong góc phòng, hỏi gì cũng không nói. Bác sĩ cũng không hiểu em nghĩ gì. Nét mặt của em lạnh như một tảng băng. Là vì sao hở em? Anh muốn tảng băng đó phải được ấm lên. Làm thế nào đây? Anh tự hỏi và không có câu trả lời. Anh đã kiệt sức!”

***

Ba và tôi đã hoàn thành cây Giáng sinh kịp trước lễ. Không khí của đêm Chúa ra đời thật bình an tuy ngoài trời tuyết rơi nhiều. Xứ Lake Tahoe của tôi năm nay trời lạnh hơn mọi khi. Tôi chuẩn bị một vài món ăn cho tiệc “réveillon”, chữ này Ba bày tôi nói theo tiếng Pháp đó! Tôi biết làm các món ăn nhờ sưu tầm và học hỏi qua sách báo, internet và ti-vi, chứ tôi đâu được học ở mẹ như các bạn khác. Tôi bày tất cả thức ăn trên bàn, và ngồi chờ.

Ba về! Và có cả Mẹ nữa! Tôi đã hồi hộp chờ đợi giây phút này. Mẹ ngơ ngác nhìn quanh khắp nhà như đang đến một xứ lạ. Mẹ thờ thẫn nhìn tôi lúc này đang ôm lấy Mẹ. Tôi không cần biết Mẹ có nhận ra tôi là ai không nữa. Nhưng tôi biết rằng lòng tôi đang được ấm lên, rất ấm.

Ba đưa Mẹ vào phòng khách, dìu Mẹ ngồi xuống chiếc ghế tròn từ ngày nào vẫn là dành riêng cho Mẹ. Chiếc ghế này tôi cũng rất thích, vẫn thường thay Mẹ ngồi vào đó để cảm nhận cái sung sướng muốn cuộn mình ngủ vùi như một con mèo nhỏ. Mẹ tỏ vẻ hài lòng. Và Mẹ nhìn sang cây Giáng sinh. Đôi mắt của Mẹ bỗng sáng lên như có hồn. Mẹ lẩm bẩm:
- Cây thông! Cây thông… màu bạc! Ô, sao có cây thông màu bạc???
Ba bật khóc. Ba quỳ xuống bên cạnh Mẹ, nói với giọng xúc động:
- Phải, cây thông màu bạc. Em có nhớ gì không?
Mẹ lắc đầu. Ba nói trong sự nhẫn nại:
- Cây thông trên ngọn đồi gần Viện Pasteur Đà Lạt, em nhớ không? Năm đó, anh nghỉ phép về cưới em, mình được thêm mấy ngày để đi Đà Lạt. Mình đã tinh nghịch chạy lên ngọn đồi trước mặt Viện Pasteur để chặt cây thông con về làm cây Giáng sinh. Khi hai đứa khệ nệ mang đi, có người chạy theo cho biết là cảnh sát sẽ phạt những ai đốn chặt cây thông con, vì đó là điều cấm. Hai đứa hoảng hồn. Em nảy ra sáng kiến vào tiệm bán sơn mua một lon sơn. Hết sơn trắng để giả làm tuyết, mình đành mua lon sơn màu bạc, hai đứa thi nhau phết sơn lên cành cây. Thế là ra một cây thông màu bạc. Hì hục sơn xong, anh và em nhìn quanh thấy mọi người bu lại như coi hát xiệc. Trong số đó có một anh cảnh sát. Anh ấy lắc đầu, cười hai đứa mình già đầu mà dại như con nít. Thật không giống ai! Thế nhưng cây thông được bưng về tặng cho trường học vì mình đâu có nhà ở đó mà chưng. Thế rồi…
Ba đang nói huyên thuyên bỗng ngưng bặt, vì Mẹ đang cười thật giòn. Như có một phép lạ nào làm cho cả gương mặt của Mẹ sáng lên rạng rỡ. Mẹ thật đẹp như Mẹ trong những bức hình tôi ép vào sách để ngắm mỗi ngày. Ký ức của Mẹ có phần nào đã sống lại chăng? Tất cả những gì Ba vun đắp bấy lâu, bằng nỗi buồn phiền, thất vọng, nhớ nhung, ân hận, và tình yêu, đã được đền lại bằng phút giây này!

Giáng Sinh 2009

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

alt

1

Anh Danh thả bé xuống sau khi đã chở bé đi hết con dốc. Anh vuốt tóc lại cho bé, và quàng dây chiếc cặp qua vai cho bé.
- Vào trường đi! Chiều anh tới đón.
- Nhớ nghen! Anh Danh không được trốn đi nữa đó.
Anh bẹo má bé, và bỗng nhìn thật lâu vào đôi mắt đang mở tròn to ngơ ngác. Chắc bé không hiểu gì đâu! Bé hẳn đang nghĩ rằng anh Danh kỳ quá, cứ biết trêu chọc con nít thôi, ngoài ra không làm được gì hết. Có một nỗi vui chợt đến cùng lúc với một nỗi buồn. Anh muốn cười to, và đồng thời cũng thấy muốn khóc. Bé ngây thơ vô tả. Bé xinh xắn giống như mọi đứa bé trên thế gian. Bé vui tươi khôn cùng. Mà anh thì già khụ hơn ông lão. Anh xấu xí đen đúa so với bé. Và anh hay buồn. Thật vô duyên như một đám mây đen lẻ loi giữa bầu trời xanh. Bé đã quay lưng. Anh muốn theo bé vào trường. Nhưng thôi. Đám mây đen phải theo gió mà bay đi.

Bé ngoảnh lại, dặn thêm:
- Chiều anh nhớ đến đón.
Anh gật đầu, rồi leo lên xe đạp. Có tiếng “cót két” dường như ở yên xe, nơi bàn đạp, hay trước tay cầm – không biết. Nhưng đó là một sự tố cáo rằng anh đã lâu không dùng đến chiếc xe này. Ai cũng có sở làm xa, cũng đi xe gắn máy. Bé nhỏ xíu thì đi học phải có người đón đưa. Chỉ có anh xa nhà quá lâu. Hơn nửa năm còn chi! Anh trở về khi mùa đông gần tàn lụi. Anh gặp lại chiếc xe đạp vẫn để ở trong căn phòng sau lưng buồng ngủ, như gặp lại những người thân, gặp lại bé. Chiếc xe đạp giúp anh đi chơi trong những ngày giờ trống, và chở anh với bé thả dốc, leo dốc, đưa đón bé đi học. À, thế thôi. “Kỷ niệm” là như vậy thôi. Anh còn vài ngày nữa để “làm kỷ niệm” trong tâm trí bé. Khi anh tiếp tục đi xa nhà như bao lâu nay, bé sẽ nhớ, ít ra là nhớ những ngày gió lộng được anh chở đi học – Con dốc dài có nhiều hoa Cúc vàng mọc bên đường, ngang qua lò gốm và dẫn đến ngôi trường nhỏ – Những ngày cuối đông nghe lạnh hơn mọi khi – Những cụm mây xám trên nền trời buồn – Và tiếng “cót két” của chiếc xe đạp cũ kỹ thân mến – Kỷ niệm là đó, bé!

Anh đạp xe leo lên con dốc cũ. Không có bé sau lưng, anh vẫn cảm thấy nặng nề. Bởi con dốc khá cao. Nhưng đã nói trời lúc này lạnh hơn mọi khi, nên anh không thấy mệt. Anh bỗng nhớ lại lúc mình mới mười ba, mười bốn tuổi, chiều nào cũng rủ bạn bè đua xe đạp với nhau, vượt những quãng đường thật dài, chạy đến toát mồ hôi mới chịu. Thuở bé ai cũng có những ngày giờ và những việc làm thật vô ích – người lớn sẽ nghĩ như vậy. Nhưng phải là con nít mới cảm thấy thú vị, sung sướng khi rong chơi, nghịch ngợm và đấm đá nhau. Bé sẽ lắc đầu và trề đôi môi mỏng hồng thắm ra mà cười khi biết anh thuở nhỏ như thế. Vì bé là con gái. Bé có nhiều trò chơi hiền dịu, dễ thương hơn của anh. Bé có ba bốn đứa bạn ngoan quá là ngoan. Bé có một con búp bê nhỏ bằng củ khoai lang. Bé có một con chó bằng len của chị bé làm cho, trắng như bông gòn. Và bé có một rổ đựng son, chảo, chén, đũa bằng nhựa quá xinh. Anh không biết chơi kiểu như bé. Nhưng không ai cấm được anh thích thú khi nhìn bé bày hàng. Anh muốn ngồi xuống chơi với bé. Anh muốn giả giọng “bà cụ non” nói với bé:
- Bán cho “tui” năm đồng chè đậu đen đi “bà”!
Không ai cấm được anh ngắm bé ôm búp bê ru ngủ. Anh không phải nhà thơ nên không biết nói gì để ca tụng bé. Chỉ biết rằng đứa bé nào ôm một con búp bê, một cái gối hay một khúc gỗ giả làm em bé mà ru ngủ thì cũng đều dễ thương cả.

Anh gò lưng đạp xe lên dốc, nhưng dừng lại ở ngang lò gốm. Những hũ, bình, chén, đĩa phơi ở trước sân trông đẹp quá! Anh leo xuống, nhặt một mẩu đất sét. Đất kêu nhẹp nhẹp giữa mấy ngón tay. Anh lại đang làm một công việc vô ích đây chăng? Có gì đẹp đẽ ở mẩu đất sét? Anh không có bàn tay khéo léo để làm ra những chén đĩa lọ bình như mấy người thợ kia, nên đất sét vào tay anh trở thành vô dụng. Anh hờ hững quăng mẩu đất sét đi. Mấy ngón tay anh còn dính lại một chút đất sét. Quái, hình như hồi còn bé có lần anh đã lẩn thẩn hỏi: “ Tại sao việc gì qua đi cũng để lại dấu vết nhỉ?”. Rồi anh lại tự cho rằng đó là lẽ đương nhiên, nó phải như thế. Như bị đòn thì phải còn lại dấu roi, ăn vụng thì thường dính mép, khóc xong thì mắt phải đỏ, và đạp xe mãi thì chân phải mỏi. Nghĩ như vậy đó, thật là trẻ con và lẩm cẩm. Tự nhiên anh nghĩ giá anh là một người thợ lò gốm chắc anh sẽ làm cho bé thật nhiều đồ chơi bằng sành, bé sẽ thích lắm vì đẹp hơn đồ chơi nhựa. Vì anh muốn mai kia anh đi rồi anh sẽ còn để lại cho bé một vài dấu vết. Ít ra bé sẽ nhớ hoặc nghĩ đến anh một lần trong mỗi ngày, khi nhìn các món đồ chơi bằng sành đó. Uổng quá! Anh không làm nên tích sự gì cho bé cả. Vậy mà ở ngoài đời, anh hăng hái vô cùng. Khi trở về anh mới thấy rằng anh đang bỏ bé quá xa. Anh đang bỏ quên tuổi thơ của anh, của bé. Nhưng bây giờ anh đang yêu những gì bé dại, nhỏ nhắn đây. Anh đang muốn làm một cái gì cho bé. Thương con nít, không phải chỉ ngồi ngắm nó hay viết văn, làm thơ ca tụng nó – mà phải làm gì cho nó. Ít ra, trong đời sống anh, cũng đang có bé.

2

Bé Thơ sáng đôi mắt lên khi thấy anh Danh đón ở trước trường. Anh cũng đi bằng chiếc xe đạp ấy. Và đã đúng như lời hứa là anh không trốn đi chơi. Bé thích được anh chở leo lên dốc. Khi anh khom lưng đạp xe, bé vịn chắc yên trước, hỏi:
- Anh Danh mệt không?
- Không mệt.
Bé không tin, hỏi nữa:
- Không mệt sao anh thở?
Anh cười khì:
- Người sống thì phải thở chứ sao!
Anh trả lời gàn như ông cụ. Nhưng tự nhiên câu nói của anh làm bé thấy thương anh chi lạ! Lúc trước, anh đi đâu lâu quá không về, đôi khi bé thắc mắc không biết anh có đang thở, đang ăn, đang ngủ, đang nói… giống như bé và mọi người trong nhà đây không. Bé có nhiều câu hỏi tự đặt ra và tự trả lời. Bé không nhờ ai giải thích. Ai cũng có việc riêng của người ấy. Chỉ có anh Danh là bé muốn để dồn nhiều thắc mắc về hỏi anh. Không phải vì anh là người hay giải đáp. Mà vì bé biết anh là Ông Già Nô-en đến bỏ quà bên cạnh bé trong khi bé ngủ say – Anh chỉ làm như thế vào một đêm trong mùa đông của mỗi năm thôi. Mỗi lần nhận quà bé đều tin rằng đó là quà của Ông Già Nô-en cho bé. Bé cám ơn “ông ấy” mà không cám ơn anh. Nhưng anh vui lắm chứ anh có giận đâu! Đến nay anh vẫn chưa biết là mẹ đã tiết lộ bí mật cho bé rồi. Nhưng bé sẽ im lặng, để anh lại tiếp tục làm Ông Già Nô-en tặng quà cho bé. Anh đã về đúng lúc mùa đông gần hết. Gió lạnh nhắc bé rằng bé sắp được có quà. Nếu anh không về nhằm lúc này thì sao nhỉ? Chắc là mẹ sẽ nói với bé rằng năm nay Ông Già Nô-en bận việc không đến, hoặc “ông ấy” hết tiền rồi… Ý nghĩ đó làm bé bật cười, và hỏi anh không do dự:
- Anh Danh! Anh còn tiền không?
- Hết rồi. Bé muốn ăn kẹo hở?
- Dạ đâu có!
Xe đạp đã đến ngang lò gốm. Anh Danh ngừng xe lại, đỡ bé xuống. Anh bảo:
- Tới đây, xem người ta nắn đồ sành. Rồi có muốn ăn kẹo, anh cho.
Tiếng của anh lùng bùng trong gió. Bé ôm chặt chiếc cặp vào người. Anh còn nói gì nhiều chữ nghe không rõ. Anh và bé ngồi xuống trên sân phơi đồ sành. Anh cũng đang nói nữa. Bé thích thú khi thấy anh vừa nói vừa móc trong túi áo lấy ra hai chiếc kẹo:
- Bé muốn có một món đồ chơi bằng sành không? Anh sẽ làm cho. Một trái bưởi nhé! Một trái khế nhé! Hay là một con chuột bạch? Hay một ông tiên bồng đứa bé giống như hình vẽ trên cái đĩa này?
Bé lắc đầu:
- Không, bé không thích mấy thứ đó. Để nghĩ coi… Anh Danh làm cho bé… nhiều thật là nhiều thiên thần đi!

Bé không biết rằng anh đang trố đôi mắt nhìn bé, ngẩn ngơ. Thật là nhiều THIÊN THẦN cho bé! Chết anh rồi! Anh nào có biết nắn đất sét thành thiên thần. Anh cũng chưa bao giờ nhìn kỹ hình hay tượng của thiên thần. Anh chỉ còn nhớ những khi ngắm nhìn hang đá bày bán ngoài phố, anh thấy những vị thiên thần dường như là trẻ nhỏ, có cánh trên vai và gương mặt thì dịu hiền ghê lắm.

- Ừ, anh sẽ làm. Nhưng xấu thì ráng chịu nghe!
Bé dạ. Anh lại dẫn bé ra nơi có đống đất sét. Anh nhặt lên một mẩu. Không đủ đâu. Bé đòi có nhiều thật là nhiều thiên thần. Anh phải xin nhiều đất sét đem về nhà. Anh sẽ làm cho bé nhiều tượng thiên thần, cho bé sắp dài trên bàn học. Bé sẽ có một thứ đồ chơi độc đáo mà tụi bạn bé không có: Những thiên thần bằng đất sét – a, nói như thế nghe không hay chút nào – những thiên thần bằng sành, bé hở!
Nhưng anh lại ngẩn ngơ. Làm sao để có mẫu mà nặn đây? Anh lại phải ra chợ mua một bức tượng thiên thần về bắt chước theo ư? Anh chẳng muốn thế chút nào. Anh sẽ làm bằng óc tưởng tượng của riêng anh.

Khi bé lúi húi leo lên yên sau xe đạp, anh bỗng dưng có ý nghĩ rằng bé cũng đẹp như một thiên thần. Vì rõ ràng trước mắt anh, bé xinh xắn ngoan hiền và thanh khiết vô vàn. Anh nhớ đến một dạo nào người ta đã ví tuổi thơ như thiên thần. Nhiều người đã viết, và nhiều người đã lập lại như thế. Anh không thích bắt chước họ, cũng không thích viết văn. Ca ngợi con nít là thiên thần, đối với anh không có lợi ích gì. Anh chỉ muốn nhìn bé và nắn cho bé nhiều bức tượng thiên thần, thế thôi. Anh giản dị vô cùng bé hở!

Bé biết không, anh cũng là một thứ “thiên thần” đó! Một thứ thiên thần không có cánh mà bay được. Anh không muốn nhận một thứ danh xưng nào cả. Anh chỉ muốn làm anh của bé, của một đứa trẻ thơ thanh khiết. Bỏ qua cái hiệu “thiên thần” của anh đi. Anh còn một số ngày để ở lại với bé trong mùa đông này. Mai mốt trên bàn học của bé sẽ có nhiều thật nhiều thiên thần bằng sành để thành một hàng. Anh chưa dám hứa với bé là sẽ có bao nhiêu, vì anh sẽ bắt đầu làm, ngay chiều nay, suốt ngày, cho đến khi anh tiếp tục đi xa nhà.

3

Mùa đông sẽ tàn lụi. Bé Thơ biết như thế. Cả những cơn gió lạnh rồi cũng sẽ không còn. Còn một thứ vui thích của bé là nhận những món quà của “Ông Già Nô-en” cũng mất cả ‎ ý nghĩa. Bởi vì lần này, chính tay anh Danh đã viết vào mảnh giấy để bên gối bé, rằng: “Anh là Ông Già Nô-en, đêm nay đến tặng cho bé Thơ món quà này. Ông Già Nô-en hết tiền, nên chỉ cho bé hai mươi thiên thần bằng sành. Cho bé ngoan mãi”. Và sáng hôm sau anh đã đi thật sớm. Đã đến ngày anh đi rồi. Tượng thiên thần thứ hai mươi chưa hoàn thành. Có một cái cánh gắn chưa kỹ vào vai. Dù thế, bé vẫn cho nó nhập bọn với những tượng kia. Bé sắp cho các thiên thần đứng chung với nhau thành một dãy dài trên bàn học. Bé ngắm những đồ chơi đó và mỉm cười một mình. Tự nhiên bé thấy nhớ anh Danh kỳ lạ. Khi đó anh đang đi ở một nơi nào. Anh không có mặt ở nhà để thấy bé vui với những thiên thần nhỏ. Bé phải đi học với chị Thi. Và những hôm chị Thi bận, bé phải đi học một mình. Bé leo về con dốc cao, đường có nhiều hoa Cúc, dừng lại một chốc ở trước lò gốm. Người ta tiếp tục làm những chén đĩa hũ bình, phơi đầy sân và chờ đem bán.

Bé muốn reo lên cho người ta biết rằng chưa có ai nghĩ ra việc làm những thiên thần bằng sành cho trẻ nhỏ. Chỉ có anh của bé mới làm được mà thôi. Người ta sẽ hỏi rằng anh của bé là thợ trong lò gốm, là họa sĩ hay nhà điêu khắc? Bé sẽ đáp rằng anh của bé chỉ là một người biết đạp xe đạp chở em đi học và biết mua kẹo cho em ăn – ngoài ra anh còn biết đi xa nhà nữa thôi. Anh đi xa để làm gì bé không biết. Chẳng có ai nói cho bé biết hết.

Chẳng có ai nói cho bé biết hết! Nhưng một hôm nhà nhận được một mảnh giấy. Bé thấy ai cũng khóc. Chỉ có anh Danh thiếu mặt nơi đây. Bé biết có việc gì đã xảy đến cho anh Danh. Không ai dám cho bé biết, để mặc cho bé tưởng tượng những hình ảnh quái gở trong đầu. Ai cũng đi thăm anh Danh mà không cho bé đi theo. Ngày nào, tuần nào mẹ cũng đem thức ăn ngon đi cho anh Danh. Bé biết rồi, anh Danh không chết.

Anh Danh không chết. Nhưng bé biết rằng sự chết chắc cũng không ghê gớm bằng. Chết là hết – người lớn vẫn hay nói một cách tự nhiên như thế. Còn anh của bé vẫn còn sống nhưng chịu nhiều đớn đau. Bé khóc òa nhìn những thiên thần vô tư đứng trên bàn học. Có một-thiên-thần-đã-gãy-cánh. Đó là thiên thần thứ hai mươi mà anh đã làm vội vàng vì đã đến ngày đi. Có một thứ vỡ nát nào trong tâm tư non dại của bé. Có một đổi thay chua xót nào trong đời sống của anh rồi!!!

Buổi chiều nay tan học bé hờ hững đi về con đường quen. Những bụi Cúc vàng vẫn nở tươi vui. Ngang lò gốm vẫn thấy khoảng sân nhộn nhịp. Nhưng bé muốn khóc quá! Không còn thấy anh Danh khom người nhặt đất sét. Và trên con dốc này không còn anh Danh gò lưng đạp xe chở bé đi học. Dù anh có về nhà – bé biết – dù anh có về nhà, anh cũng không còn đạp xe được nữa. Không bao giờ anh đạp xe được nữa! Bé thương anh, thương bé, bé khóc ngon lành trên đường về.

Anh Danh xuất hiện ở cửa nhà, chờ đợi bé. Anh dang tay muốn ôm bé vào lòng. Bé nhìn anh như nhìn một người quen, một kẻ lạ. Anh đỡ cặp trên vai bé, vuốt tóc lại cho bé, và bẹo má bé. Những cử động quá quen và trở nên nhu cầu. Anh cười. Nhưng bé khóc.

4

Bé Thơ ơi! Đừng khóc. Anh đã thấy có nước mắt trong khoảng đời thơ ấu của bé rồi. Anh đã thấy có sự khắc nghiệt trong đời sống của anh. Anh đã thấy có một thiên thần gãy cánh trong đám thiên thần để trên bàn học của bé. Bé còn quá nhỏ dại nên khi thấy những mất mát, những đau đớn, bé khóc. Rồi đây, khi lớn lên, bé sẽ thấy có những định mệnh thê lương trong đời sống chúng ta, mà người như anh, như bé cũng phải nhận lãnh. Đáng lẽ thiên thần làm bằng cao su, thiên thần sẽ không bao giờ gãy cánh. Nhưng vì anh đã làm thiên thần bằng đất sét nên thiên thần phải chịu đớn đau. Thiên thần gãy cánh thì thiên thần không bay được. Anh đã không còn gì để đạp xe chở bé đi, về con dốc – ngang qua lò gốm để ngắm những chén đĩa lọ bình.

Nhưng bé Thơ, đừng khóc nữa. Anh sẽ đến đó, nhặt thêm một mẩu đất sét. Anh sẽ gắn lại cánh cho thiên thần. Anh không còn phải vội vàng bỏ bé mà đi như một sáng sớm mùa đông kia nữa. Anh sẽ chắp lại cánh cho thiên thần như nhóm một chút tin yêu trong tuổi thơ của bé, trong đời sống của anh. Đâu có ai cấm chúng ta thắp lại một ngọn đèn, trồng lại một bông hoa, bé nhỉ!

Rồi một sớm mai khi thức dậy bé sẽ thấy trên bàn học có đầy đủ hai mươi thiên thần quỳ ngay ngắn bên nhau. Bé sẽ cười thật sung sướng. Anh sẽ cười thật đau khổ. Rồi sẽ có lúc anh kể cho bé nghe về cuộc đời anh, về những ngày gian nan của anh. Bé sẽ cảm thấy sự sung sướng và sự đau khổ là một. Thiên thần cũng có lúc biết khóc vậy bé nhỉ!

Anh sẽ còn làm cho bé nhiều thiên thần nữa, những thiên thần bằng đất sét – bằng sành. Dù anh không còn đạp xe được nữa, anh cũng sẽ đến đó – lò gốm, giữa con dốc thân yêu của anh Danh, và của bé Thơ.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 215, số Giáng Sinh, ngày 15-12-1973

tuoihoa.hatnang.com

alt

1

Nhanh như chớp, Vic Morrow gạt mạnh chân của tên lính Đức. Tên này ngã xuống. Vic Morrow cướp lấy khẩu súng và đã chuyển bại thành thắng…
Lũ trẻ con vỗ tay reo hò. Tiếng nhạc chấm dứt phim “Combat” dồn dập. Màn ảnh bỗng nhiên nổi những hạt nhỏ li ti. Ông Hai thở ra:
- Rồi! Lại “tóe sao” nữa. Ba tắt nghen!
Mấy đứa trẻ nhao nhao. Hòa nói lớn:
- Hết phim rồi, để ba tắt máy. Tí nữa mười hai giờ lại mở ra mà! Tha hồ xem Ông Già Nô-en kể chuyện.
Lũ trẻ vâng lời răm rắp. Ông Hai vặn trái nút máy truyền hình. Khung ảnh trở lại xám ngoẹt, vô vị. Bà Hai bảo mấy đứa con:
- Thôi, tụi con đi ngủ đi! Hết phim rồi! Lạnh quá mà ngồi đây chi?
Bọn trẻ không chịu vào buồng, vì chúng nó còn muốn chống mắt chờ đến mười hai giờ khuya để được xem Ông Già Nô-en nói chuyện trong máy truyền hình. Bà Hai đành “chịu thua”.
- Nhưng muốn ngồi đây thì phải mặc thêm áo lạnh. Tụi con có nghe gió thổi nhiều ở ngoài không? Đợi từ đây đến khuya có nước chết cóng.
Bà mang thêm áo lạnh ra cho lũ nhỏ. Tất cả ba đứa –nằm, ngồi trên chiếc ghế bố lớn kê trước mặt chiếc máy truyền hình. Đêm nay chúng không chịu ngủ trong buồng mà đòi ngồi ở phòng ngoài để chờ đến nửa khuya. Nhưng trẻ con không làm đúng ý muốn, nên chỉ mười phút sau chúng đã ngủ quên trên ghế bố.

Chỉ còn lại ông bà Hai với Hòa. Hòa ngồi viết nơi chiếc bàn nhỏ kê gần cửa sổ đóng kín. Ông bà Hai ngồi ở bộ sa-lông đan bằng mây. Một thoáng yên lặng khiến Hòa nghe rõ tiếng gió rít từ những đồi thông bên ngoài. Hòa đưa mắt lén nhìn ba má. Tự nhiên Hòa thấy gương mặt của ba trầm lặng hơn bao giờ. Còn đôi mắt của má sao lại trĩu xuống buồn tênh. Ba má không nói một lời nào cho phá tan cái không khí u tịch này. Hòa toan mở lời, nhưng tiếng lách tách của thanh củi trong lò sưởi đã làm bà Hai quay lại. Nhận thấy đã gần hết củi, bà Hai đứng dậy mang những thanh củi còn lại để đun thêm vào lò. Ánh lửa bùng lên làm hiện rõ những nếp nhăn trên mặt bà Hai. Tự nhiên Hòa nghe lòng xúc động lạ thường. Hòa nhìn má, rồi nhìn ba. Sống với cha mẹ, gặp cha mẹ hàng ngày mà Hòa tưởng chừng mới gặp lại hai người để kịp nhận thấy rằng họ đã già rồi. Cuộc sống ở đây bình lặng quá đã khiến Hòa lầm tưởng rằng thời gian không có ảnh hưởng gì đến con người. Hòa có hay đâu năm này qua tháng nọ ông Hai đạp xe đi xuống con đường dốc đầy đất đỏ tới sở làm thì mái tóc đã đổ đầy muối tiêu; và năm này qua tháng nọ bà Hai cặm cụi trong bếp núc, trong sân vườn nhà, sau rẫy khoai lang, thì bàn tay đã cằn cỗi và gương mặt đã nhăn nheo thêm. Bù lại, Hòa đã lớn lên đây, và các em cũng đã lớn lên. Thỉnh thoảng có thư của bác Cả gửi lên, trong thư bác có khuyên ông bà Hai nên dọn xuống Sài Gòn ở để tiện việc buôn bán làm ăn và để cho các con được đi học ở các ngôi trường lớn. Nhưng ông bà vẫn chưa quyết định dọn đi.Và như thế, gia đình Hòa vẫn sống ở đây, trên sườn đồi vắng vẻ, cách xa những ngôi nhà khác. Ba má Hòa trồng khoai ở sau nhà, và vun xới nào rau cải, nào hoa, nào cây ăn trái. Cuộc sống này đã quá quen thuộc, khiến không ai cảm thấy buồn hay sợ. Nhưng có nhiều lúc, như bây giờ đây, Hòa thấy ba má ngồi suy nghĩ trầm ngâm. Má có lúc ngồi nhìn ra cửa kính đăm đăm, trông xuống chân đồi như ngóng đợi một ai. Nhưng Hòa nghĩ mãi, không biết có ai để cho má đợi chờ. Nhiều lần Hòa xem trong hộp ảnh của má, đầy đủ hình ảnh của họ hàng. Từ ông bà nội, ông bà ngoại, các cô các chú, các cậu các dì. Nhưng ông bà nội, ông bà ngoại đã mất. Bác Cả ở dưới Sài gòn, các cô các chú đã có gia đình nhưng vẫn thường gửi quà về cho chị em Hòa. Không có ai phai lạt tình cảm với gia đình Hòa cả. Còn các cậu các dì, không bao giờ Hòa được nghe má kể rõ ràng về họ. Má chỉ bảo rằng khi xưa thời buổi loạn lạc, họ hàng xa cách nhau là thường. Hay chính vì vậy mà má vẫn thường đăm chiêu nhìn ra cửa ngóng trông? Hòa thường hay đặt giả thuyết là các cậu các dì đã chết, chứ nếu không thì họ đã tìm về đây – căn nhà của ông bà ngoại mà bao năm rồi vẫn không hề thay đổi.

Ông Hai bỗng đứng dậy, nhìn một lượt năm đứa nhỏ, bảo vợ:
- Má con Hòa đem tụi nhỏ vào buồng đi, để ngủ ở ngoài nầy lạnh lắm.
Bà Hai cũng đứng dậy, nhưng bà nhìn lại lò sưởi:
- Chà, củi nầy khô, cháy mau quá, hết cả rồi. Để tôi ra sân đem củi thêm vào đã.
Hòa ngưng viết, nói:
- Má để con ra lấy cho. Trời không lạnh lắm đâu! Với lại… để con ra xem trời có nhiều sao không…
Bà Hai nhìn chồng, cười:
- Nó lại muốn mơ mộng cả ngoài trời lạnh nữa.
Trong khi ông bà Hai bồng mấy đứa nhỏ vào buồng ngủ, Hòa mở cánh cửa lớn, lách mình ra sân. Gió lạnh hắt vào người Hòa. Hòa đến bên đống củi, nhặt vài thanh củi ôm thành một ôm. Hòa ngước nhìn trời. Sao thật nhiều, sáng rực lạ lùng. Hòa đảo mắt nhìn xuống chân đồi. Qua những hàng thông chằng chịt, con đường như khép lại. Ngoài cửa rào, Hòa bỗng thấy thấp thoáng một bóng đen.

2

Bà Hai đã lo xong chỗ ngủ cho bọn trẻ. Bà trở ra trong khi ông Hai đang mở lại máy truyền hình. Tiếng cửa kẽo kẹt cùng tiếng gió rít làm cả hai người cùng nhìn ra. Hòa đi vào, tay ôm bó củi, nhưng theo sau là một gã đàn ông. Bà Hai kêu rú lên khi nhận thấy cây súng dài đen ngòm trong tay hắn. Ông Hai đứng bật dậy. Gương mặt Hòa tái xanh đầy vẻ kinh hoàng. Đúng lúc đó những hạt trắng hiện lên trên màn ảnh nhỏ, lờ mờ khuôn mặt của Ông già Nô-en. Gã lạ mặt cất giọng nghe dữ tợn:
- Dẹp cái thứ đó đi!
Ông Hai bước lùi lại, tắt máy. Gã đàn ông lại quát:
- Hai người này, ngồi xây mặt vào tường, không được cựa quậy.
Thừa biết sự nguy hiểm có thể xảy ra, ông bà Hai làm theo lời của tên lạ mặt. Sau đó, gã chĩa súng vào Hòa, hỏi:
- Trong nhà còn ai không?
Hòa lắc đầu:
- Chỉ có mấy đứa em tôi ngủ ở trong buồng. Không có ai nữa hết.
Kẻ lạ mặt ngoái đầu nhìn vào buồng. Gã tỏ vẻ yên tâm, ra lệnh:
- Con nhỏ này ngồi xuống ghế, học bài đi! Khôn hồn thì im, không tao bắn chết.
Hòa ngồi xuống, nhưng liếc nhìn lò sưởi, và kêu lên:
- Ông cho tôi đun thêm củi, chứ hết củi rồi, lạnh lắm!
Gã nọ ngăn lại:
- Để đó cho tao. Mày ngồi yên.
Gã quơ mấy cây củi, bỏ vào lò. Ánh lửa hực lên, chiếu cả vào gương mặt gã, đỏ rực. Hòa thấy gã đứng dáng lom khom. Cây súng vẫn thủ trên tay gã, làm tăng thêm vẻ dữ tợn. Hòa nghĩ nếu gã vất cây súng đi, thì gã cũng chỉ là một con người hiền hòa như ba, như má. Nhưng Hòa không hiểu gã vào nhà này làm gì. Gã là một tên cướp, một kẻ vượt ngục, hay…??? Hòa không dám nghĩ đến những điều không may. Nếu lỡ chăng gã lạ mặt này là một kẻ đang bị tầm nã, thì không sớm thì muộn ngôi nhà này sẽ trở thành một pháo đài. Hòa nghĩ đến một lúc nào đó súng sẽ nổ thật dòn từ dưới đường cái lên dần đến sườn đồi, tràn ngập sân nhà, sau rẫy khoai. Và ngôi nhà nầy có còn không? Hòa thốt, giọng lo sợ:
- Ông … ông là ai?
Gã đàn ông nhìn Hòa, đôi mắt không có một chút thiện cảm. Gã lặng thinh, ra dấu cho Hòa ngồi yên trên ghế. Rồi gã đứng cạnh lò sưởi, trông chừng cả Hòa lẫn ông bà Hai. Hình như gã lạnh lắm – Hòa chắc như vậy, vì trên người gã chỉ có một bộ đồ đen, mà da gã thì tái mét lại. Gương mặt gã xanh xao gầy ốm như người bệnh, còn đôi bàn tay xương xẩu thì đang nắm chặt cây súng. Trông gã không có vẻ gì là một tên cướp như trong phim ảnh cả.

Năm phút yên lặng trôi qua. Ông bà Hai vẫn ngồi trên ghế mây, xây mặt vào tường. Ông Hai đã hết lo ngại, vì thấy kẻ lạ mặt không giở trò gì hết, nhưng bây giờ ông thắc mắc không hiểu gã vào nhà ông để làm gì. Còn bà Hai thì run rẩy, nhưng không phải vì lạnh. Bà vẫn nghe rõ ràng tiếng củi reo lách tách, nhưng bà không biết sau lưng bà, con gái của bà đang ra sao. Còn năm đứa nhỏ trong buồng nữa, nếu có việc gì xảy ra, ai lo cho chúng nó? Tiếng chuông đồng hồ báo hiệu chỉ còn nửa giờ nữa là đến mười hai giờ khuya. Nỗi xúc động như đang bị người lạ đến phá rầy cái hạnh phúc nhỏ bé ở nơi hẻo lánh này làm nước mắt bà Hai ứa ra. Hơn lúc nào hết, những lời khuyên trong thư bác Cả hiện đến, thúc giục. Bà Hai nhắm mắt, len lén thở dài…

Đằng kia, gã lạ mặt đang tò mò giở mấy trang giấy của Hòa đang viết nửa chừng. Đôi mắt hắn chợt như dịu lại. Đôi môi thâm ngắt mở ra:
- Làm “văn sĩ” nữa cơ à?
Hòa không trả lời. Hắn lại cầm tập giấy lên, lẩm nhẩm đọc. Hòa len lén nhìn gã. Ánh lửa từ lò sưởi chập chờn trên gương mặt khô khan. Hòa thấy hình như gã có vẻ bồn chồn hơn ban nãy. Còn cây súng trên tay gã! Hơi thép lạnh kề bên đe dọa làm Hòa rùng mình.

3

- Hòa ơi! Hồi chiều má dặn con chế đầy bình thủy để sẵn, con có làm chưa?
Gã lạ mặt quay lại nhìn bà Hai. Hòa đáp:
- Dạ có. Con chế đầy rồi má.
Gã nói:
- Dẹp đi! Không có nước non gì hết.
Bà Hai năn nỉ:
- Ông làm ơn cho con tôi đi pha cà phê cho ba nó. Đêm nào ổng cũng uống cà phê. Ông làm ơn….
Nghe đến “cà phê”, đôi lông mày của gã cau lại. Hòa thấy gã kín đáo nuốt nước bọt. Hòa nhìn gã, dịu dàng hỏi:
- Ông ơi! Hình như… ông đói lắm?
Gã giật mình, rồi bỗng gã thốt lên:
- Sao… cô bé biết?
- Tôi nhìn ông, tôi biết. Ông có thích uống một tí cà phê cho đỡ đói không?
Gã lắc đầu, gằn một tiếng:
- Không!
Hòa đưa tay chỉ về phía bếp:
- Tôi không làm gì khác đâu! Tôi xuống bếp pha cà phê, rồi bưng lên ngay. Đứng ở đây ông có thể nhìn xuống bếp canh chừng tôi.
Gã lại nuốt nước bọt. Hòa nhẹ nhàng đứng dậy, vừa dò xem phản ứng của gã. Gã gật đầu. Hòa đi xuống bếp. Đứng ở cạnh bàn, gã trông thấy Hòa nhắc bình thủy, lúi húi pha cà phê.

Hai phút trôi qua. Hòa bưng một cái khay với hai tách cà phê đi lên. Gã nhắm mắt, hít lấy hương thơm đậm đà đang tỏa ra từ trên tay Hòa. Hòa đặt một tách cà phê xuống trước mặt ông Hai, rồi tiến về phía gã nọ. Hắn sáng rực đôi mắt, chờ đợi. Nhưng chợt Hòa ngừng chân, và gã cũng giật mình, vì nghe có tiếng chó sủa vang dưới đường cái. Gã hé cửa nhìn ra. Phía dưới kia hình như có ánh đèn pin lập lòe. Rồi mơ hồ, gã nghe có tiếng chân bước trên đá, tiến dần lên đồi. Tiếng chân càng lúc càng rõ hơn. Mặt gã rắn lại. Gã hất hàm hỏi Hòa:
- Cái gì vậy?
Hòa đáp, giọng run lên:
- Có lẽ… đó là tiếng chân của mấy anh nghĩa quân đi tuần. Ông!... Trời ơi!
Hòa ôm mặt. Cảnh ngôi nhà này biến thành pháo đài cho một tay súng tung hoành, sân nhà thành bãi chiến, vẽ ra trong trí óc ngây thơ. Tách cà phê còn nghi ngút khói thơm, nhưng không còn kích động đối với gã lạ mặt. Gã lầm lì hỏi:
- Đàng sau nhà có còn ngõ đi không?
- Dạ… chỉ có rẫy khoai. Nếu ông muốn đi, ông phải leo lên dốc. Qua khỏi cái “dông” ấy ông phải đi cả buổi nữa mới ra đến Cam Ly. Nhưng… ông không chịu nổi đâu, lạnh lắm. Mà ông lại đang đói nữa.
- Kệ tao! Để tao đi ngõ sau.
Gã toan đẩy cánh cửa . Nhưng đàng sau nhà thấp thoáng ánh đèn pin. Gã lắc đầu, run rẩy. Gã đẩy Hòa nép gần bàn viết, ra lệnh:
- Đứng yên! Cả hai ông bà kia nữa, không ai được la lên.
Đôi tay xương xẩu nâng cây súng, lên đạn. Hòa kinh hãi:
- Ông ! Trời ơi! Ông đừng chống lại họ. Họ đông lắm!
Gã banh áo ra, để lộ cho Hòa thấy những băng đạn dài quấn trong người. Hòa muốn quỵ xuống vì hãi hùng. Bà Hai nói như sắp đứt hơi:
- Lũ con tôi…chắc chết mất… Ông ơi!...
Ông Hai đờ người trên ghế. Có lẽ đây là giây phút cuối cùng ông còn ngồi ở đây để thấy ngôi nhà yêu dấu. Ông nhắm mắt lại, biểu lộ một sự bất lực trước tên lạ mặt.

Có tiếng lá xao động ngoài vườn. Gã sửa soạn vị trí để kê cây súng. Gã quay nhìn Hòa, dò xét thái độ của Hòa. Trong phút giây sợ hãi, Hòa nhìn xuống tách cà phê dành cho gã còn nghi ngút khói. Và, nhanh như chớp, Hòa bưng tách cà phê lên, tạt mạnh vào mắt gã. Đôi bàn tay xương xẩu buông rơi cây súng, ôm mặt. Tiếng rú đau đớn nghe rụng rời.

4

Mọi việc xảy ra như trong một khúc phim nghẹt thở. Cô bé Hòa hành động lanh lẹ như một anh hùng trong phim “Chiến trận”. Nhưng lũ trẻ nhỏ còn ngủ ngon nên không có tiếng reo hò. Và Hòa không đoạt khẩu súng, không trói tay gã lạ mặt. Mà cô bé bật lên khóc, vừa khóc vừa lấy khăn lau mặt cho hắn, và cởi chiếc áo ấm của mình choàng lên người hắn.
- Cậu Quy! Có phải cậu Quy đây không? Má ơi, má quay lại đi! Má nhìn xem có phải cậu Quy, em của má đây không? Ba ơi! Ba có nhận ra người này không? Cậu Quy, cậu không biết cháu, nhưng cháu biết cậu. Cháu nhận ra cậu khi cậu đứng gần lò sưởi, dáng cậu khom khom. Cậu có nhớ ngày xưa cậu chụp một bức ảnh mà cậu đang khom lưng ôm củi trước nhà ông bà ngoại không? Cháu nhận ra cậu ghì tay trên cây súng. Cậu có nhớ ngày xưa cậu chụp một bức ảnh mà cậu đang ôm một cây súng giả không? Và cậu có một bức ảnh đang đọc sách nữa, rõ ràng là hình ảnh của cậu đây, giống khi mà cậu đọc tập truyện của cháu. Cậu Quy, hình ảnh của cậu và các cậu, các dì khác còn đầy một chiếc hộp mà má cháu gìn giữ. Cậu có nhận ra ngôi nhà này không? Ngôi nhà này ông bà ngoại để lại cho ba má cháu nè! Hay cậu cố tình quên? Cậu có nhận ra má cháu không? Tại sao khi vào nhà, cậu không vui mừng vì gặp chị? Sao cậu mang cả súng vào đây? Mái nhà này, ba má cháu đã cố giữ gìn, đã cố lưu lại ở đây để chờ ngày các cậu, các dì trở về. Cậu nhìn ba má cháu đi! Hai người chắc trông già hơn ngày xưa rất nhiều phải không cậu? Ngày xưa chưa có cháu. Và các cậu, các dì đã đi đâu, đã làm gì, cháu không được rõ. Cháu là Hòa, còn ba đứa em cháu nữa, chúng đang ngủ trong buồng. Tất cả là cháu của cậu. Chúng cháu vẫn hằng mong có ngày gặp lại các cậu các dì. Cháu mơ làm văn sĩ, nên cháu hay xin má cho xem hộp ảnh, để vẽ vời cho các cậu các dì trong những truyện của cháu. Bây giờ cháu đã gặp cậu rồi! Sao cậu không tỏ vẻ vui mừng hay nói một câu thân tình khi trở về ngôi nhà này hở cậu? Cháu chờ đợi cậu nói, nhưng cơ hồ cậu không nhớ gì cả. Cậu không nhận ra ai cả sao? Cháu đã pha cà phê cho cậu uống, vì cháu biết cậu đói. Nhưng cậu lại muốn biến ngôi nhà này thành chiến trường, muốn phá hủy rẫy khoai, vườn rau, muốn giết những người ngoài kia. Cậu biết không, họ là những người bạn của cậu đó. Chú Văn, chú Hoài, chú Bảy cụt một ngón tay, cậu nhớ họ không? Họ đã giúp đỡ cho ba má cháu rất nhiều, đã góp bàn tay sửa sang ngôi nhà này, vun xới mảnh đất này. Cháu không muốn họ chết. Cháu cũng không muốn cậu chết. Cậu cho cháu xin lỗi cậu thật là nhiều…. Cháu hành động xuẩn ngốc, nhưng không thể không làm. Cháu chờ đợi cậu nói ngay từ phút cháu mơ hồ nhận ra cậu. Và cháu cũng chưa kịp nói với cậu… Cậu Quy, cháu xin phép cậu tháo những băng đạn này ra nhé! Không có hận thù khi bước vào căn nhà này. Cậu đừng chối bỏ tình người trong cậu. Cậu nhìn ba cháu, má cháu đi, cậu ơi! Cậu Quy ơi!..
Người lạ mặt – đúng hơn, cậu Quy của cô bé Hòa – buông hai tay, cố hấp háy đôi mắt. Đồng thời với tiếng xô ghế đứng dậy của ông Hai, đồng thời với tiếng kêu vừa xót xa vừa vui mừng của bà Hai, người ấy ôm siết đứa cháu trong đôi tay xương xẩu. Từ đôi mi mắt còn bỏng rát, hai giọt nước mắt bỗng bất ngờ thoát ra, lăn xuống quanh đôi gò má cao…

Có tiếng gõ cửa dồn dập, rồi cánh cửa bật mở tung mang theo tiếng gió rít. Rất đông người hiện ra, in hình trên khung trời đầy sao sáng. Và tiếng khóc của cô bé Hòa dậy lên làm mềm mọi trái tim.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Bán nguyệt san Tuổi Hoa số 191, ra ngày 15-12-1972

tuoihoa.hatnang.com