Những bài mới nhất

Tưởng niệm các nạn nhân trong vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ

alt

 

 

(Viết năm 2011)

Phải nói là “Những lời hát xa xưa của tôi” mới đúng. Bởi trong thời niên thiếu, trong những năm tháng tuổi teen của tôi, những lời hát như đã gắn vào trong tâm. Thuở lên trung học, tôi nghe lời anh cả “học Anh văn, tốt nhất là hát nhạc tiếng Anh cho nhiều”. Mà với bất cứ ngôn ngữ nào cũng vậy chăng? Tôi nghĩ thế. Mấy anh em cứ nghe radio và hát theo những bản nhạc mình yêu thích, rồi thì đi mua nhạc về tập, mãi rồi thành một thói quen khó bỏ. Anh em tôi có cả một tủ nhạc thuộc loại “top hits”. Còn chị tôi và tôi, có những đêm thức thật khuya, châu đầu lại bên chiếc radio pin, sợ ba má nghe nên vặn rất nhỏ, có khi còn trùm mền lại đến vã mồ hôi chỉ để nghe cho hết một bản nhạc.

Vậy thì cũng không hẳn là chỉ vì thích học Anh văn. Đúng ra là mấy anh chị em thích nhạc. Thuở ấy... tôi hay ôm cây đàn guitar hát những bản nhạc của The Beatles. Cả nhà ai cũng nói là tôi mê nhạc “yeah yeah”. Mà “dé dé” thiệt! Nghe dễ thương lắm! Đa số các bản nhạc “dé dé” chỉ có vài lời rất đơn giản, nhưng cô đọng, đủ nói lên cái ý của cả bài, cộng thêm nét nhạc vui nhộn làm cho mỗi bản có một nét độc đáo riêng. Mà không chỉ ban nhạc The Beatles, thời đó thịnh hành những ban nhạc bốn hoặc năm người nổi tiếng khắp thế giới, trong đó có ban nhạc The Byrds mà tôi cũng rất thích. Bản “Turn! Turn! Turn!” của ban nhạc này, lời lẽ đơn giản, kết cấu mỗi câu như kiểu văn đối xứng của Việt Nam nên dễ nhớ và dễ thấm. Đây là một trong những bài “nhiều lời” nhất mà đứa bé con như tôi thích và nhớ cho đến bây giờ:

Turn! Turn! Turn! 
(To Everything There Is a Season)

 

To everything - turn, turn, turn

There is a season - turn, turn, turn
And a time to every purpose under heaven

A time to be born, a time to die
A time to plant, a time to reap
A time to kill, a time to heal
A time to laugh, a time to weep



Sao mà đáng yêu thế! Cái ý niệm “xoay” nhiều nghĩa, đen và bóng, khiến tôi thích dịch ra tựa bài hát là “Xoay! Xoay! Xoay!”

Xoay! Xoay! Xoay!

Việc gì cũng có lúc, có thời của nó
Mọi việc dưới trời đều có kỳ định
Xoay! Xoay! Xoay!

Có lúc sinh, có lúc tử
Có lúc gieo, có lúc gặt
Có lúc giết hại, có lúc chữa lành
Có lúc cười, có lúc khóc 

Có lúc dựng xây, có lúc đạp đổ
Có lúc múa ca, có lúc than khóc
Có lúc ném những hòn đá đi
Có lúc gom những hòn đá lại

Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình
Có lúc yêu thương, có lúc thù ghét
Có lúc bạn ôm hôn
Có lúc bạn tránh né 

Có lúc được, có lúc mất
Có lúc xé nát, có lúc vá khâu 
Có lúc yêu, có lúc ghét
Có lúc dành cho hòa bình, tôi thề, không quá trễ đâu!


Một cô nhóc, hát những lời hát này, thấy thấm, nhưng thấy thấm một cách… rất ngây thơ. Tôi biết gì là chiến tranh! Tôi biết gì là hòa bình! Tôi biết gì là cuộc sống! Tôi biết gì là cõi chết! Ấy vậy mà hát say mê. Người ta bảo: “Những bản nhạc trong thời niên thiếu sẽ in rất đậm trong cả cuộc đời của chúng ta”. Không tin, xin bạn cứ thử nhớ lại.

Rồi đến những nhóm nhạc hai người, thuở đó cũng một thời tôi yêu thích. Trong số đó, tôi say mê với những bản nhạc của nhóm “Simon and Garfunkel”, hai người ca nhạc sĩ hát với cây đàn guitar. Không chỉ riêng tôi đâu, mà hầu như ai cũng thích đôi song ca này. Có lẽ vì những “tiếng lặng thầm” của họ nói lên được nỗi niềm khắc khoải của cả một thế hệ đã quá quen với chiến tranh, với những câu hỏi chưa bao giờ được giải đáp. Họ đã tự giải đáp.

The Sound Of Silence

 
Hello darkness, my old friend,
I've come to talk with you again,
Because a vision softly creeping,
Left its seeds while I was sleeping,
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence.



Tiếng lặng thầm

Chào bóng đêm, người bạn cũ 
Tôi lại đến chuyện trò cùng bạn
Bởi một ảo ảnh đang nhẹ len về
để lại hạt mầm trong khi tôi đang ngủ
Và ảo ảnh ươm mầm trong óc tôi, vẫn còn đó
trong tiếng lặng thầm

Trong những đêm thao thức tôi cô đơn bước đi
qua những con đường đá cuội
Dưới vầng sáng của đèn đường
Tôi kéo cổ áo che giá rét và ẩm ướt
Khi đôi mắt tôi bị một tia sáng đèn nê-ông xoáy vào, xé màn đêm
Và chạm đến… tiếng lặng thầm

Và trong ánh sáng trần trụi tôi đã thấy
Mươi ngàn người hoặc hơn
Người ta đang chuyện trò mà không nói ra lời
Người ta nghe mà không cần lắng tai
Người ta viết những bài hát không có tiếng
Và không ai dám khuấy động tiếng lặng thầm

Khờ quá, bạn không biết đâu
Sự yên lặng như ung nhọt nẩy lên
Nghe những lời tôi có thể bảo bạn
Nắm lấy cánh tay tôi sẽ vươn đến bạn
Nhưng những lời của tôi, như những giọt mưa lặng lẽ rơi xuống 
và vang vọng 
trong bể lặng thầm…


Như vậy đó, nhiều rất nhiều, những bản nhạc trong thời tôi còn nhỏ, thấm vào lòng, tự nhiên đến nỗi tôi không còn nhớ nó là tiếng Anh. Khi buồn thì hát, cảm nhận cũng lớn dần theo với tuổi tác của mình. Nhưng nói chung, tất cả đều nguyên vẹn.

***

Trong đời người, có những bài hát đến với chúng ta trong những hoàn cảnh đặc biệt, và chúng ta nhớ nhiều nhất, nhưng có khi không còn nghe lại. Và cũng có những bài hát chúng ta biết trong những hoàn cảnh không có gì đặc biệt, nhưng có một ngày nào nghe lại trong một bối cảnh khác thường, chúng ta sẽ thấy cảm động nhiều.

Tôi không nghĩ rằng mấy mươi năm sau, tôi nghe lại hai bản nhạc trên, trong một dịp rất đặc biệt. Qua màn ảnh ti-vi, tôi nghe lại những lời của “Turn! Turn! Turn!” nhưng không phải với phần trình diễn của The Byrds, mà là qua lời nói của cựu Thị trưởng Thành phố New York Rudy Giuliani… khi ông đọc bài diễn văn, mà thật như một “điếu văn”, vì ông đang tưởng niệm những nạn nhân trong biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001:

“Việc gì cũng có lúc, có thời của nó. Mọi việc dưới trời đều có kỳ định. Có lúc sinh, có lúc tử. Có lúc gieo, có lúc gặt. Có lúc giết hại, có lúc chữa lành. Có lúc cười, có lúc khóc. Có lúc dựng xây, có lúc đạp đổ. Có lúc múa ca, có lúc than khóc. Có lúc ném những hòn đá đi, có lúc gom những hòn đá lại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Có lúc yêu thương, có lúc thù ghét…”

Kẻ ngoại đạo như tôi, nay đã biết đó là những lời từ trong Kinh Thánh.

Mà cũng rất giống với ý niệm trong đạo Phật. Điều gì hiện có, đã có ngày xưa. Điều gì sẽ xảy ra, đã xảy ra tự lâu rồi. Trong vòng xoay của thế giới, có những điều thật khó hiểu nhưng đã hiển nhiên.

alt

Và rồi thật xúc động, tôi thấy lại Paul Simon.

Không có người bạn Garfunkel cùng song ca bên cạnh, Simon ôm cây đàn guitar, đội chiếc mũ lưỡi trai có in số 9/11, giản dị như ông đã từng. Simon 70 tuổi hát “The Sound of Silence”. Không chỉ với những người sống đang hiện diện quanh ông, đang rơi nước mắt nghe ông và hát theo ông, mà hồ như cả ba ngàn người bỏ mình trong cuộc khủng bố cũng về chia sẻ với ông “tiếng lặng thầm”. Tôi thuở là bé con hiểu lời bài hát này theo kiểu bé con. Tôi lớn lên nhìn thế giới với hai bộ mặt của nó: náo nhiệt và sâu lặng. Mỗi người khám phá “tiếng lặng thầm” theo cách của mình. Còn nơi đây, trên khởi điểm của những cái đã từng mất đi, “tiếng lặng thầm” cất lên có một âm vang lạ thường của nó.

Khi con người còn lấy sự đau thương của kẻ khác làm niềm vui sướng cho mình, thì mọi thứ tiếng nói sẽ trở thành vô nghĩa. Chỉ còn lại một thứ. Tiếng lặng thầm. The sound of silence…

 

2011

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

 

Nguồn hình: Cam Li và bạn

 

 

Trong những năm tháng xa xưa, tôi thường cùng với Má đi qua chùa mỗi dịp lễ Vu Lan. Má trung thành với Tịnh xá này. Tịnh xá ở gần nhà, và là nơi Má thân thiết từ nhiều năm. Đó là nơi Má dẫn dắt một “ca đoàn” nho nhỏ (chữ của Má nói vui) mỗi khi tụng niệm. Thuở đó Má còn khỏe, giọng Má vững vàng, vang xa. Hàng tuần Má đều qua tụng kinh bên chùa. Cả nhóm cứ theo Má mà tụng. Hôm nào Má bận việc không đến, mấy cô bác trong nhóm nói là “thiếu người bắt giọng” tụng không hay. Các con ghẹo Má: “Má như là một ca sĩ ấy!”  Má yêu cảnh chùa, yêu chốn tĩnh mịch, nhưng cũng là nơi “có tính xã hội hóa cao”, nói theo cách mới bây giờ. Ở đó, Má thấy vui vì làm được nhiều việc Má thích, như giúp Sư Bà và các sư cô lo việc cúng Phật, gặp gỡ các đạo hữu, chuyện trò an ủi nhau…

Mỗi mùa Vu Lan, chúng tôi được nghe Sư Bà giảng về giai thoại Đức Mục Kiền Liên cứu mẹ ở chốn địa ngục. Sư Bà giọng ấm, tiếng rõ ràng, diễn giải ý nghĩa của câu chuyện, khuyên mọi người làm lành lánh dữ. Trong mùa Vu Lan, tâm tư chúng ta hướng vọng “cửu huyền thất tổ”. Thành ngữ này đã trở nên rất quen thuộc, giải thích thì hơi phức tạp, nhưng hiểu thì rất nhanh, chính là ông bà cha mẹ của chúng ta từ nhiều kiếp trước.

Tôi đi xa, không còn dịp đi chùa cùng với Má. Má vẫn dẫn dắt “ca đoàn” của Má, không những ở chùa, mà còn đi đến những gia đình cần lời kinh tiếng kệ, hoặc để cầu an cho người đang bệnh, hoặc để cầu siêu cho người đã qua đời.

Sư Bà nay đã viên tịch. Má không còn tỏ mắt như xưa. Má chỉ đi chùa mỗi khi có dịp đặc biệt. Dù ít, nhưng đó vẫn là một sinh hoạt không thể thiếu.

Mùa Vu Lan, mùa báo hiếu! Đến mùa Vu Lan, người ta cầu nguyện cho ông bà cha mẹ, nếu đã qua đời thì được siêu thoát, nếu còn sống thì được khỏe mạnh an vui. Riêng chữ “hiếu” cũng có nhiều thay đổi. Tôi còn nhớ lúc học ở bậc trung học, học trò ai cũng biết những câu chuyện trong “Nhị Thập Tứ Hiếu”. Tôi thích nhất bài “Mẫn Tử Khiên”, được ông Lý Văn Phức dịch và viết với thể thơ song thất lục bát rất dễ học, dễ nhớ:

Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa,
Xót nhà huyên quạnh quẽ đã lâu.
Thờ cha sớm viếng, khuya hầu,
Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn.
 
Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo,
Hai em thời áo kép, mền bông,
Chẳng thương chút phận long đong,
Hoa lau nỡ để lạnh lùng một thân.
 
Khi cha dạo, theo chân xe đẩy,
Rét căm căm nên xẩy rời tay,
Cha nhìn ngẫm nghĩ mới hay,
Nghiến răng rắp cắt đứt dây xướng tùy.
 
Sa nước mắt, chân quỳ, miệng gửi:
Lạy cha, xin xét lại nguồn cơn,
Mẹ còn, chịu một thân đơn,
Mẹ đi, luống những cơ hàn cả ba.
 
Cha nghe nói cũng sa giọt tủi.
Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng xưa,
Cho hay hiếu cảm nên từ,
Thấm lâu như đá cũng rừ, lọ ai?

Tôi thích chuyện thầy Mẫn Tử vì ngoài ca ngợi lòng hiếu thảo, chuyện còn có ý nghĩa về lòng nhân đạo và sự thứ tha. Tôi cũng thích chuyện thầy Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ mà nghệ sĩ Hữu Phước diễn tả qua bài vọng cổ “Đội Gạo Đường Xa” của soạn giả Kiên Giang, sâu sắc, thấm vào lòng người; hay chuyện Lão Lai Tử đã bảy mươi tuổi nhưng vẫn ăn mặc sặc sỡ, múa hát, thậm chí cất tiếng khóc “oa oa” để làm vui cha mẹ.

Nhưng không phải chuyện nào cũng tốt. Sau này tôi vẫn thường chia sẻ với các bạn rằng chúng ta không nên rập khuôn chữ hiếu, nhất là với cái học lấy mẫu mực từ văn hóa Trung Hoa có thể không phù hợp. Điển hình là trong “Nhị Thập Tứ Hiếu” cóchuyện kể nhà kia rất nghèo, đến mùa đói kém không có thức ăn, trong nhà có bà mẹ già yếu và đứa con nhỏ, hai vợ chồng vì “hiếu với mẹ” nên đem con đi chôn để bớt đi một miệng ăn, cho mẹ có cơ hội được ăn nhiều hơn. Chôn sống đứa con, Trời ạ! Tôi kịch liệt phản đối.

Sống ở hải ngoại, nhất là nước Mỹ, nhiều người nghi ngờ rằng chữ “hiếu” không còn. Tôi thì tin rằng có. Bàng bạc trong mỗi người con đều có chữ hiếu. Chỉ khác là chữ hiếu không trở thành một cái gì bắt buộc do nề nếp gia đình hay truyền thống dân tộc, từ những bài học đã thành khuôn mẫu cho mọi người. Lòng hiếu vẫn có, và có thể hiện, nhưng theo tự nhiên.

Và chắc có lẽ cũng vì xã hội chăm lo cho người già và người bệnh khá chu đáo nên những người con không cảm thấy quá khó khăn khi cha mẹ đã già. Nước Mỹ có chương trình “In Home Supportive Services” , tùy theo mức độ bệnh tật của người già, chính phủ sẽ cung cấp tiền giúp đỡ để con cái có thể thuê người chăm sóc cha mẹ khi mình phải bận bịu đi làm. Còn một chọn lựa khác nữa, đó là nursing home. Có người bảo vào nursing home chán và buồn lắm; có người bảo sẽ tự nguyện vào nursing home khi mình không còn tự phục vụ chính mình nữa, để con cái khỏi bận tâm. Điều quan trọng là về phần con cái, có thường xuyên thăm viếng cha mẹ hay bỏ mặc các cụ trong cảnh cô đơn?

Trong tháng Bảy âm lịch, nhiều nhà ở xóm tôi ngày trước thường nhộn nhịp cúng “cô hồn”. Đây là dịp để trẻ con lối xóm tụ lại trước những ngôi nhà, chờ gia chủ cúng xong là xông vào giành những khúc mía, củ khoai, bánh, kẹo và những đồng bạc cắc. Mấy người lớn gọi bọn trẻ là “cô hồn sống”. Nghe cũng vui vui. Má thì không cho tụi nó chen lấn giành giật. Má bảo:

“Mấy đứa đứng yên, không chen lấn, bác cúng xong sẽ phát đều cho công bằng nghen!”

Thế là bọn trẻ đứng yên. Tụi nó nể Má lắm. Mấy người được gọi là “tụi nó” giờ đây cũng đã thành tài hết cả rồi! Xóm tôi nhà cửa mọc thêm lên, chật chội. Người xóm tôi kẻ mất người còn.

Đó là chuyện ngày xưa. Bây giờ ở trong nước người ta cúng kiến càng ngày càng nhiều. Tháng Bảy âm lịch, nghề làm vàng mã tha hồ trăm hoa đua nở. Người ta đua nhau sắm nhà, sắm xe và trăm thứ tiện nghi cho người đã khuất, cho rằng họ có thể “xài” những món ấy. Hàng bằng giấy có khi to bằng hàng thật. Nhà càng giàu càng cúng cô hồn rôm rả. Đám đông người lớn con nít chen lấn “giật cô hồn”. Chủ nhà sợ bị cướp giật nên lên lan can lầu rải tiền xuống. Bên dưới, người người chen chúc xô đẩy nhau để hứng tiền. Có người bày ra “sáng kiến” hứng tiền bằng cái lồng gà to tướng có lót vải cho chắc ăn, tiền khỏi rơi ra ngoài. Nhiều em bé đi lượm tiền, bị người lớn đè muốn bẹp dí, mặc kệ, miễn hôm đó kiếm được đủ tiền mua tô phở.

Những người cộng sản vào chiếm miền Nam Việt Nam, đả phá việc tín ngưỡng, cho đó là mê tín dị đoan. Vì thế có một thời người dân không dám bày tỏ niềm tin tôn giáo của mình. Riêng chuyện “cúng cô hồn” cũng làm rất kín đáo. Bởi người ta không muốn bỏ đi một tập quán lâu đời là cúng trong tháng Bảy để cầu an vui cho gia đình cũng như nơi làm việc. Một số công sở, ban đầu rụt rè, lén lút bày bàn cúng “cô hồn” rồi nhanh tay dẹp, miễn cho “có lệ kẻo ôn mệ la”, không dám để cấp trên biết. Dần dần tục lệ cúng cô hồn phát triển, ngay cả những người gọi là “cán bộ” cũng tin tưởng và cúng tế, phô trương nhiều hơn cả “thường dân”, thật lạ!

Đến nay thì chuyện cúng vàng mã thịnh hành hơn cả trong thời chưa cộng sản. Người đã khuất đi đâu, về đâu? Họ “xài” những món hàng ấy như thế nào? Không ai trả lời được. Chỉ có một điều rất dễ hiểu là càng cổ xúy cho việc mê tín đị đoan, càng có nhiều người được lợi. Và có cái lợi gì cho tâm hồn của con người không? Đó là chưa kể chuyện mua thần bán thánh. Đức Thánh Trần, vị anh hùng của dân tộc, cùng bao nhiêu vị anh hùng khác, đã bị lạm dụng để người ta có chỗ đi mua lộc, mua chữ. Bao giờ dân tôi mới hết cảnh này?

**

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.”

Ai nghe những câu thơ trên, trong tuyệt tác “Chinh Phụ Ngâm Khúc” của Đặng Trần Côn, qua nét bút diễn nôm của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm mà không chạnh lòng nghĩ đến các chiến sĩ vô danh đã bỏ mình vì đất nước?

Trong tháng Bảy, mùa lễ “Xá tội vong nhân”, tôi ngậm ngùi tưởng nhớ những người bạn của tôi, khoác áo trận, ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Có người còn về được trong quan tài, nhưng có người ở lại mãi mãi trong rừng núi, thân xác không biết về đâu. Chỉ còn lại trong trí nhớ của người thân và bè bạn tiếng cười, câu nói của họ.

Trong tháng Bảy, mùa lễ “Xá tội vong nhân”, tôi cầu nguyện cho linh hồn những người chết trong chiến tranh, những người chết trên đường vượt biên vượt biển tìm tự do.

Tháng Bảy năm nay, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng di dân, hình ảnh một em bé trai người Syria, ba tuổi, bị sóng cuốn tấp vào bãi biển Thổ Nhĩ Kỳ, đã làm cả thế giới rúng động. Aylan Kurdi nằm bình yên, vô tư như còn sống. Hình ảnh của em như một lời cáo buộc rằng ngay trên dương gian này, có những chốn còn đau thương hơn cả địa ngục, xui khiến người ta phải quyết định lìa bỏ mà đi.

**

Mùa Vu Lan. Có lẽ nhiều người còn được niềm vui mang bông hoa màu hồng trên áo, nhưng cũng có nhiều người thổn thức với màu hoa trắng. Tôi hiểu, những người con, cho dù có lớn có già bao nhiêu, ngày mất cha mất mẹ là ngày cả bầu trời sụp đổ. Tôi đã thấy một người, thường ngày rất cứng cỏi, nhưng khi mẹ qua đời, anh đã khóc như một đứa trẻ. Khi tiễn mẹ xuống lòng đất, anh đã nhoài cả nửa người xuống như muốn theo cùng mẹ.

Tôi cũng vậy, khi Ba mất, cả năm trời sau tôi mới nguôi ngoai. Giây phút đưa Ba vào nơi hỏa táng, tôi như đứa bé bị người ta lấy mất đi một cái gì quý báu vô cùng. Ba ơi, từ đó Ba đã biến mất!

Bạn tôi, T.C., mẹ mất sớm. Ai có hiểu trong con người nghiêm nghị thường ngày giảng đạo pháp trước bao nhiêu người, là nỗi thao thức nhớ đến mẹ của mình hằng đêm. Chị viết trong bài “Cổ Tích”:

<<Má tôi mất, tôi không khóc nhưng lòng không sao nguôi ngoai được…

Một khuya, kiểng thức chúng, tự nhiên tôi nghe như tiếng má tôi gọi tôi. Tôi bật dậy, bàng hoàng, chợt nhận ra chuyện cổ tích có thật. Lòng tôi nhẹ bổng, thương nhớ như nguôi ngoai. Má vẫn ở cạnh tôi, chăm chút tôi như bao giờ.

 Tình cờ cũng mùa hạ năm đó, khi tự tứ, trên mỗi phần quà chia chúng, sư Trụ trì tôi gắn cho mỗi người một đóa hồng nhung ĐỎ thắm. Sư bảo:

"Mẹ thì không bao giờ mất."

Tôi vừa gói quà vừa đáp bằng giọng chắc nịch:

" Đúng rồi cô ! Mẹ thì không bao giờ mất. ">>

Lễ Vu Lan và lễ “Xá tội vong nhân” ở cùng trong tháng Bảy âm lịch. Trong mùa lễ này, chúng ta cùng suy niệm những điều giữa sự sống và cái chết. Một bác vừa qua đời, cây hoa wisteria trong vườn nhà bác bỗng dưng tàn héo, đổ gục. Nhưng mấy hôm sau, nhiều loài cây khác lại trỗi dậy và nở hoa. Người thân của bác qua sự mất mát cũng cảm thấy một niềm an ủi. Không có gì là chấm dứt. Tất cả đều sẽ bắt đầu.

Để tạm dứt về những suy niệm tản mạn tháng Bảy, có lẽ thật đầy ý nghĩa khi chúng ta cùng thưởng thức bài thơ “Do Not Stand At My Grave And Weep”của Mary Elizabeth Frye, bà viết để an ủi một người con gái đau buồn vì không được ở bên mẹ trong những giây phút cuối đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.

Nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như đã viết lại bài thơ này thành nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây”. Tôi xin mượn bản nhạc này để khép lại những dòng tản mạn về suy niệm mùa Vu Lan, tháng Bảy.

Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
 
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.
 
Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.
 
Khi đêm tối buông lối anh đi về
Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo.
 
Đừng đứng bên mộ tôi trong sầu não
Tôi không ở đó, tôi vẫn quanh đây
Tôi áng mây bay lãng đãng theo ai
Trong ráng sớm hừng đông ai thức dậy.
 
Đừng đứng bên mộ tôi mắt lệ rớm
Tôi không ở đó, tôi vẫn quanh đây…

Tháng Bảy âm lịch 2015

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

https://vietbao.com/p231953a242611/suy-niem-mua-vu-lan

 

 

 

 

 

1

My có thói quen đáp xe bus xuống phố mỗi cuối tuần.

Xuống phố! Mỗi lần đi như thế My có cảm giác như đang nghe bài hát “Downtown” thuở còn đi học và hát theo giọng hát của Petula Clark trong radio. Ở downtown, người và xe tấp nập, không giống như khu vực nơi My cư ngụ. My tha hồ đi dạo khắp nơi, không mua sắm thì cũng có nhiều chỗ để ngắm nghía. Và lần nào My cũng không quên đi xuống Phố Hầm.

Phố Hầm! Đó là cái tên do riêng My nghĩ ra và đặt cho khu Underground Atlanta. Nơi đây cũng giống như những trung tâm thương mại khác, nhưng lại có một cái gì rất riêng. Chỉ cái tên gọi “Underground Atlanta” đã là đặc biệt lắm rồi! Một khu vực rộng khoảng năm “block phố”, kiến trúc cũ kỹ, nằm dưới “hầm”. Biết bao nhiêu thăng trầm từ lúc bắt đầu được xây dựng sau cuộc Nội Chiến, đến nay Phố Hầm trở thành một địa điểm du ngoạn và giải trí cho cả du khách lẫn người dân sở tại.

Buổi sáng hôm nay, My cũng lang thang trong Phố Hầm. My có ý tìm mua một vài món hàng làm quà cho gia đình. My thích ngắm những chiếc “booth”, tức là những gian hàng nhỏ, với hình dáng như những chiếc xe ngựa, trên đó trưng bày đủ loại từ quần áo, khăn, mũ cho đến nữ trang, đồ chơi, bánh kẹo…. Những chiếc xe xinh xắn ấy đứng tăm tắp bên nhau, trông như đang chờ để rời bến. Trong lúc còn đang thơ thẩn, My nghe xen lẫn trong tiếng cười nói của mọi người, có tiếng đàn guitar văng vẳng. Có cái gì thúc đẩy My lần theo tiếng đàn ấy. Tiếng đàn rõ dần. Và đây rồi! Không phải chỉ tiếng đàn, mà còn có lời hát nữa. Nơi khoảng trống trước một cửa tiệm bán giầy, người đàn ông đội chiếc “mũ phớt”(1), cầm cây đàn guitar, vừa đàn vừa hát. Chỉ một mình ông thôi. Không có ban nhạc. Không có micro. Nhưng giọng của ông lúc lên cao, lúc hạ thấp, rõ ràng và điêu luyện không kém những ca sĩ trên sân khấu. My tiến đến gần ông. Ôi! Ông đang hát bản nhạc mà My yêu thích từ lâu: “House of the rising sun”. Một cảm giác vui vui khiến My mỉm cười. Ông càng hát, My càng bị lôi cuốn theo bản nhạc. Và khi nỗi niềm dâng lên thành một đợt sóng, rồi hạ thấp dần để thành một nỗi đau câm lặng, ông dứt tiếng hát. Ông còn đàn thêm một đỗi nữa với những âm giai mà My hồ như đã quen thuộc lắm, rồi ông để cho tiếng đàn tắt dần. Xung quanh ông bỗng nhiên chỉ còn lại sự im lặng. Cả đám đông im lặng. My chợt đưa tay lên má mình, thấy một giọt nước mắt rơi…

Và rồi đám đông như bừng tỉnh. Tiếng vỗ tay vang lên rào rào. Người ta bỏ những đồng tiền lẻ vào chiếc hộp giấy ông để cạnh bên. My cũng bỏ tiền vào đó. Một vài người bước đi. Vài người nán lại có ý chờ xem ông có hát thêm hay không.  My đến gần ông, mở lời:

-         Hay quá! Cám ơn ông.

Ông nhìn My, gật đầu:

-         Cám ơn cô.

My không muốn yêu cầu ông hát bản khác. Bởi bài hát vừa rồi quá hay, My muốn giữ lại dư âm của nó. Người đàn ông gom góp mớ tiền trong chiếc hộp, cho vào túi của chiếc áo khoác màu xám. Chiếc mũ của ông cũng màu xám. Áo quần màu xám. Mái tóc màu xám. Và nét thời gian được vẽ trên gương mặt phong trần của ông với làn da màu nâu. Ông trông giống như một pho tượng đồng.

Chừng như ông cũng không muốn hát nữa, nên ông đến ngồi trên băng ghế dài trước hành lang hẹp. Thấy My đang nhìn vào cây đàn guitar của mình, ông khẽ hỏi:

-         Cô thấy cây đàn này thế nào?

My nhìn kỹ. Đó là một cây đàn đã cũ, trông hình thù không có gì đặc biệt. Nhưng thật khó tưởng tượng rằng cây đàn này đã phát ra những âm thanh tuyệt vời lúc nãy. My trầm ngâm một chút, và đáp:

-         Ông ơi! Cây đàn hay lắm!

-         Thế ư?

-         Nói đúng hơn là… ông đàn rất hay.

Người ca sĩ cười thành tiếng:

-         Thật vậy sao? Tôi không nghĩ thế. Tôi kiếm sống qua ngày thôi cô ạ!

-         Nhưng ông đàn và hát rất hay, hay hơn cả những người nhà nghề.

Ông gật gù ra vẻ hài lòng, rồi ông bắt đầu chơi một bản độc tấu. My ngồi xuống bên cạnh ông, yên lặng lắng nghe. “Kiếm sống qua ngày”! Qua hình dáng khắc khổ của ông, My liên tưởng đến những người đàn hát dạo trên đường phố Sài Gòn, trên những cầu bắc, trên những chuyến phà đông đúc người và xe cộ đủ loại. Đa số họ là những người khuyết tật, do bẩm sinh cũng có, mà do vết tích của chiến tranh để lại cũng có. Những cuộc đời nghèo! Ngày qua ngày, tiếng đàn tiếng hát không phải là nghệ thuật mà như tấm gương phản chiếu toàn bộ cuộc đời vô định của họ. My ngậm ngùi thở dài. Chợt nhìn qua người ca sĩ nơi đây, My thắc mắc không biết cuộc đời của ông ra sao nhỉ?

Hết bài nhạc, ông quay sang My, cười nhẹ, rồi thật tự nhiên, ông nói:

-         Tôi tên là Louis. Còn cô?

-         Dạ tôi tên My, M.Y. Nhưng xin ông cứ gọi tôi là “mi”, không phải “mai”.

-         “Mi” nghĩa là tôi, phải không?

-         Phải.

My cười theo ông, hóm hỉnh. Ôi, mình đã có thể trò chuyện với ông ấy rồi đây!

Nhưng My không thể ngồi nghe ông đàn mãi được, vì My còn phải làm nhiệm vụ: đi mua sắm. My tạm biệt ông. My rảo bước vào những gian tiệm, tìm mua áo quần và đồ chơi. Cũng có những món quà lưu niệm dễ thương My mua ở những cái “booth”. Chà! Mỗi người một món, vậy mà xách đã nặng đôi tay. My không quên ghé mua một túi “bánh croissant” nóng hổi ở một tiệm bán bánh Pháp mà My rất mê. Đi một vòng lại trở về nơi cũ, My gặp ông Louis cũng còn đang đàn hát. Vẫn có nhiều người đứng thưởng thức chung quanh ông. Nhưng có lẽ ông dễ dàng nhận ra My trong những người lạ đó, nên ông nheo mắt cười với My.

Chờ ông dứt bản nhạc và ngồi nghỉ, My đến mời ông một cái bánh. Ông nhận ngay, ăn một cách vui thích. Ông gật gù:

-         Cô có sở thích giống với tôi. Tôi thích loại bánh này lắm. Ở quê tôi, cũng có tiệm bánh Pháp bán loại bánh này. Thật ra, ở xứ này, nơi nào cũng có những hiệu tiệm như nhau. Nhưng cái gì ăn ở quê thì cũng có khác, phải không cô?

-         Quê ông? Quê ông ở đâu?

-         Nơi có ngôi nhà mặt trời mọc đó.

-         New Orleans?

-         Đúng rồi.

-         A! Hay quá! Vậy sao ông không ở đó mà đến đây?

-         Tôi ở đây để kiếm sống. Ở đây tương đối dễ tìm việc hơn. Đi hát dạo thế này còn kiếm được khá tiền, chứ ở quê tôi thì nghèo lắm!

My im lặng.

Ông Louis hỏi:

-         Thế còn cô? Quê của cô ở đâu?

-         Quê của tôi… xa nơi đây lắm ông ạ, là Việt Nam đó!

Ông Louis gật gù:

-         Việt Nam? Việt Nam ư? Tôi biết. Tôi đã có thời gian ở bên đó.

My reo lên:

-         Ông đã ở Việt Nam?

-         Phải. Tôi cũng đi nhiều nơi, về thôn quê cũng nhiều. Tôi làm quen với cả những người ca sĩ đi đàn hát dạo ở xứ của cô nữa đó!

-         Thật vậy sao?... Ông ơi, ông có phải là… cựu quân nhân?

-         Phải! Nhưng giờ đây tôi đã về sống đời bình thường. Tôi hồ quên hết rồi! À, gia đình của cô ở cả đây chứ?

-         Không ông ơi! Cha mẹ và nhiều anh em tôi còn ở Việt Nam. Tôi nhớ nhà lắm!

-         Bao giờ cô về lại?

-         Tôi chưa biết nữa. Hôm nay tôi lo đi mua quà dần dần cho những người thân. Tôi muốn gửi quà cho họ nếu tôi chưa về được.

-         Vui nhỉ! Vậy tôi hát tặng cô bản “Take me home, country roads” nhé!

-         Vâng, cám ơn ông.

-         Nhưng tôi không nhận tiền của cô nữa đâu đấy!

2

Phố Hầm Atlanta, người dân ở thành phố Atlanta quen gọi đó là Underground. My thì thấy chữ “Phố Hầm” do mình đặt có một nét hay hay, rất đặc biệt. Từ khi còn là một cô bé, sinh ra và lớn lên tại thành phố sương mù Đà Lạt, My như đã gắn bó với những kiến trúc có tầng hầm. Đi làm việc tại những viện nghiên cứu khắp nơi, My cũng đã từng miệt mài trong những “labo” ở tầng “sous-sol”, hay còn gọi là basement. Đến Atlanta, không chỉ có một basement mà còn có thể đến ba, bốn tầng basement. Và ở đây, tính cách vừa cũ kỹ vừa tân thời của khu Underground cũng đã gợi cho My nhiều cảm tình. My thấy mình rong chơi trong Phố Hầm như người đi khám phá những điều thú vị. Khi đi vào những cửa tiệm đầy ánh đèn thì có cảm giác đang là ban đêm, nhưng ra đến một nơi khác thì chan hòa ánh sáng mặt trời. Tại đó, My thích đứng chụp hình với những hình tượng trong truyện cổ tích hoặc phim hoạt họa. Những bức tượng đó cao to hơn My rất nhiều.

Đa số những người làm ăn buôn bán ở Phố Hầm là người da đen, cũng như ở nhiều nơi khác trong thành phố Atlanta. Atlanta! Cái thành phố quê hương của “Cuốn theo chiều gió”, của Khu tưởng niệm Martin Luther King Jr., của Trung tâm Jimmy Carter, của tổng hành dinh CNN, của Thế giới Coca Cola, … và của Phố Hầm. My quen thuộc những nơi ấy, cũng như quen thuộc lối đi về CDC và Villa International trên khu đồi thơ mộng của mình vậy.

Nếu My gặp ông Louis ngoài đường phố, không đàn không hát không chuyện trò, thì chắc My cũng thấy ông bình thường như những người My gặp trên xe bus, trong tiệm ăn, trên màn hình ti-vi, hoặc như những người làm việc trong các tiệm đánh giày. A! Nói đến tiệm đánh giày thì phải nhấn mạnh đến điểm đặc biệt của nó. Người ta sẽ được thấy một khung cảnh mà ở Việt Nam không bao giờ có. Người khách hàng ngồi trên một chiếc ghế đặt trên một cái bục rộng, cao khoảng hơn một mét. Người thợ đánh giày thì đứng, chứ không ngồi, và đứng rất thẳng, làm công việc đánh bóng đôi giày cho khách. Lần đầu tiên khi My nhìn thấy cảnh này, My giật mình vì có cảm tưởng rằng người khách kia ngồi “chễm chệ” trông hách dịch quá! Nhưng khi nhìn lại, và suy nghĩ kỹ, My thấy hay hay, bởi vì người thợ đánh giày không phải ngồi lom khom dưới chân của khách. Họ đứng thẳng như những người thợ hớt tóc, thợ may, nhân viên bưu điện hay ngân hàng; hoặc theo cái nhìn “méo mó nghề nghiệp” của My, giống như những người làm việc trong phòng thí nghiệm vậy. Nhưng đó là những người thợ đánh giày làm việc trong tiệm. Ngoài đường, My vẫn gặp những cô cậu thiếu niên xách những thùng đồ nghề giống như những em bé đánh giày của Việt Nam. Chúng chen chúc chạy lên xe bus, xe lửa, đứng túm tụm vào với nhau và nói cười râm ran thật tự nhiên.

Ông Louis thì lại đại diện cho một góc cạnh khác của thành phố này. Cũng như những người đàn hát trên phố ở những nơi khác mà thôi, nhưng ông hầu như đã gắn liền với Phố Hầm. Ông nói cho My biết rằng ông sống đơn độc ở Atlanta từ mấy mươi năm nay, sau khi ông trở về đời sống dân sự. Ông cư ngụ trong một khu phố nghèo ở ngoại ô, ngày ngày đáp xe lửa vào đàn hát mưu sinh ở Phố Hầm. Tiền bạc kiếm được ông đều gửi về giúp bà con ở New Orleans. Ông sống cuộc sống rất đơn giản nên không cần nhiều tiền chi lắm. Công việc đàn hát của ông cũng như một “hobby” thôi, nhưng lại là một thú tiêu khiển kiếm ra tiền, ông không còn mơ ước nào hơn. Có khi đôi mắt ông, trong khi hát, bỗng trở nên xa thẳm. Tiếng đàn của ông, tuy không réo rắt thổn thức như tiếng kèn trumpet của ông Jack, bạn ông, cũng hay biểu diễn trước khu nhà hàng, nhưng nó lạ lùng lắm. Có khi nó vui tươi tở mở như tiếng reo của người đi xa lâu ngày được trở về quê. Lại có khi nó nghẹn ngào như nói lên thân phận của những người sống lạc loài đã mấy trăm năm, muốn tìm lại cội rễ của mình.

Lần này thì My nghe ông Louis hát bản “Georgia on my mind”. My thường nghe bài này với hình ảnh Ray Charles ngồi đàn piano và hát. Nhưng ông Louis chơi guitar thì lại có một tính cách riêng. Chơi guitar trình bày một bản nhạc jazz thì có vẻ hơi lạ lùng một chút. Nhưng ông Louis vừa đàn vừa hát rất tự nhiên, như thể ông đang tâm tình cùng mảnh đất nơi ông đang trú ngụ.

Chỉ một bài hát cũ
Giữ Georgia trong tôi
Đêm ngọt ngào quyến rũ
Qua hàng thông, trăng trôi
 
Như cánh tay vươn nhẹ
Như ánh mắt dịu dàng
Giấc mơ lành khe khẽ
Về đường tôi thênh thang

Khi ông Louis dứt tiếng thì My cũng vừa dịch xong lời bài hát trong đầu. My đọc cho ông nghe. Ông lộ vẻ cảm động lắm. Ông nói:

-         Tiếng Việt của cô nghe hay quá! Nó trầm bổng du dương như có nốt nhạc.

-         Cám ơn ông Louis.

Ông Louis bỗng reo lên:

-         A! Tại sao cô không cho tôi và khán giả quanh đây nghe một bản nhạc Việt nhỉ? Cô… có chơi đàn được không?

-         Dạ… có. Ông cho tôi mượn cây đàn nhé!

-         Dĩ nhiên.

Và ông quay sang nói với đám đông:

-         Thưa quý vị, đây là người bạn của tôi. Cô ấy sẽ hát cho quý vị nghe một bản nhạc Việt Nam.

My ngượng lắm. Nhưng cố thu hết can đảm, My bắt đầu bài hát mà My yêu thích từ nhỏ:

-         Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn, lúa thơm cho đủ hai mùa. Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê… (2)

Hát xong, My tóm tắt ý bài hát ra tiếng Anh cho mọi người hiểu. Mọi người vỗ tay dòn dã. My hết sợ. Ông Louis chớp nhanh đôi mắt, xúc động. Hình như ông đang bắt được cái nhịp đập chung của hai bài hát. Ông đứng yên. Ô kìa! Đám đông đang bắt đầu một động tác quen thuộc: họ lần lượt đến bỏ tiền vào chiếc hộp của ông. Nhiều người đến bắt tay ông, và bắt tay My nữa. My bối rối, nhưng nghe một niềm vui kỳ lạ đang đến. Hôm nay My đã làm một nghệ sĩ đường phố. Một nghệ sĩ của Phố Hầm!..

Khi ông Louis gom tiền từ chiếc hộp, ông đưa cho My và nói:

-         My ơi! Tiền này là của cô đấy!

My từ chối:

-         Không! Đó là tiền của ông. Tôi chỉ hát chơi thôi mà!

-         Không được, của cả hai. Tôi chia đều nhé!

My phì cười:

-         Ông thật là công bằng như kiểu Mỹ. Nhưng ông hãy cho phép tôi gửi tặng lại cho những em bé nghèo ở quê ông, nhé ông! Làm ơn!

-         Ồ!.. Vâng. Vậy tôi xin thay mặt các em bé đó cám ơn cô.

3

Tuần cuối của tháng tám, My bất ngờ nhận được tin ba đau nặng. My bay về Việt Nam ngay. Đầu tháng chín, ba mất. My ở lại Sài Gòn nửa tháng để cùng má và anh chị em lo việc cho ba. Nỗi đau thương của gia đình chiếm hết thời gian và tâm trí của My.

Và My phải trở lại Atlanta. Dòng đời mỗi người vẫn phải trôi theo hướng đã định. My lại bù đầu với công việc hàng ngày…

Một sáng chủ nhật, khi những tia nắng vàng bắt đầu nhảy múa, gợi lại sự thanh thản cho My, My cảm thấy muốn đi xuống phố. Xuống phố! Một công việc quen thuộc, chỉ trong vài tuần đã trở nên khá xa xăm. My lên xe bus.

Phố Hầm vẫn nhộn nhịp. Người qua kẻ lại dường như đông hơn trước. My khẽ mỉm cười. Ai cũng như có chút quen biết. Tại vì lòng mình nghĩ thế thôi! Chẳng trách những cư dân của Villa International, nơi My cư ngụ, cũng thường thốt lên “Home! Sweet home!” mỗi khi đi xa về. Phố Hầm như cũng ngọt ngào chào đón. My chạy ngay đi mua loại bánh Pháp quen thuộc, rồi đến nơi ông Louis vẫn thường biểu diễn.

Không có ông ở đó. My chạy tìm ông ở những nơi khác, cũng không gặp. Ông đã đi đâu? Ông bệnh chăng? My giật mình khi nhớ ra rằng ông không còn trẻ trung gì nữa. My ngơ ngác…

Tiếng kèn trumpet! My đã nghe tiếng kèn văng vẳng. My chạy đến nơi kịp nhìn thấy ông Jack vừa chấm dứt bản nhạc. Thấy My, ông Jack đưa một bàn tay lên chào. My đến gần, hỏi ông:

-         Ông Jack, ông có biết tại sao ông Louis không đến đây?

Ông Jack lắc đầu:

-         Không. Tôi đã không gặp ông ấy từ cuối tháng. Ông ấy bảo ông phải về New Orleans để thăm bà con và giúp đỡ cho họ. Sau đó, đã xảy ra cơn bão Katrina. Cho đến nay, vẫn chưa thấy ông ấy trở lại. Tôi không được biết tin tức gì thêm.

Thấy My chưng hửng, ông Jack an ủi:

-         Chắc không sao đâu! Cầu Chúa ban phước cho ông ấy.

-         Vâng, chắc không sao đâu!

My tạm biệt ông Jack. Phố Hầm bỗng như vắng lặng khác thường. Túi bánh trên tay My vẫn còn nóng hổi. My lang thang hết các khu phố. Tiếng xe lửa chạy rầm rập trên những chiếc cầu cạn (3), gợi nên hình ảnh một người tìm về quê. Một chân bước xuống sân ga, chân kia còn trên tàu…

Well, I got one foot on the platform
The other foot on the train
I'm goin' back to New Orleans
To wear that ball and chain…

My ra khỏi Underground. Khung cảnh sáng trưng trước mắt với đài nước chảy lấp lóa. Một bầy chim bồ câu đang vui đùa với các du khách. My mở túi bánh, lấy ra một chiếc và bẻ nhỏ mời chúng ăn. Bầy chim ăn no nê xong rủ nhau bay đi. Nhưng có một con còn ở lại. Nó không cử động.  My đến gần. À, con chim giả! Con chim bồ câu đậu gần chân của một bức tượng. Đó chính là bức tượng người đàn ông đội chiếc “mũ phớt”, ngồi trên thềm, cúi đầu, bên cạnh ông là một chiếc chăn nhỏ cuộn lại. Một người không nhà! Bức tượng có lẽ làm bằng thạch cao, nhưng lớp sơn bên ngoài đen xám như màu đồng. Ông đang ngồi thật thong dong. Có lẽ ông cũng đang thả những mẩu bánh vụn xuống đất cho con chim nhỏ này ăn. Sau lưng ông là bờ vách nước chảy rất đẹp mắt. Ông ngồi như bao nhiêu du khách ngồi chơi trên bậc thềm thấp đó, yên lặng, nhưng không lẻ loi.

My ngồi xuống bên bức tượng, chợt giật mình. Bao lâu nay My đã quen thuộc với bức tượng này mỗi khi đến Phố Hầm. My lại còn ngồi cạnh ông để chụp hình nữa. Nhưng chưa bao giờ My ngắm kỹ gương mặt của ông, bởi nó hầu như khuất trong bóng của chiếc “mũ phớt”. Bây giờ My mới nhận ra rằng gương mặt này rất giống ông Louis. Mà không! Không phải chỉ giống ông Louis. Bức tượng này có lẽ giống rất nhiều người. Đó chính là những người “nghệ sĩ” rất âm thầm của Atlanta. Họ đến rồi đi. Có thể rồi họ cũng sẽ trở lại.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

2010

vietbao.com

tuoihoa.hatnang.com

Bản dịch tiếng Anh đăng ở sách "Writing On America 2010" (kỷ niệm 10 năm mục "Viết Về Nước Mỹ " của Việt Báo)

 

(1)  Mũ phớt: mũ nỉ có vành hẹp

(2) trích “Tình hoài hương” (nhạc Phạm Duy)

(3) cầu cạn: viaduct

 

 

The Artist At Underground Atlanta

 

1

 

It was My’s habit to take a bus downtown every weekend.

Downtown! My [mi] usually felt like she was listening to "Downtown", a song she would listen to in high school and would often sing along with Petula Clark's voice on the radio. Downtown, where people and vehicles were in crowds, unlike the area where My lived. My walked around freely, not only for shopping, but also for watching plenty of things. And My didn’t forget to go to “Phố Hầm”.


“Phố Hầm”! That was the name from My’s own mind, referring to Underground Atlanta. This place was like the other shopping centres, but there was something very exceptional. The name "Underground Atlanta" was already very special! Located in the basement, it was an area of about five blocks with old architecture. Through many ups and downs from being built after the Civil War, Underground Atlanta was a hub of excursion and entertainment for all tourists and local residents.

This morning, My also wandered around Underground. She intended to buy some gifts for her family. She loved gazing at the booths, which were small kiosks, in horse-drawn carriage shape, displaying a variety of products, ranging from clothing, towels, hats to jewelry, toys, candies… Those lovely carriages were standing straightly side by side, as if they were waiting to leave the station. While still wandering, My heard a remote sound of a guitar among the voices and laughters. Something hastened her to follow that sound. The sound became gradually louder. And here it was! She found not only the sound of guitar, but also a voice. In the corridor in front of a shoe store stood an old man wearing a felt hat, playing the guitar and singing a song. There was only him. No band. No microphone. But his voice was sometimes higher, and at other times lower, clear and no less polished than any singer on the stage. My came closer to him. Oh! He was singing My’s favorite song: "The House Of The Rising Sun". A sense of fun made My smile. The more he sang, the more My was attracted to the song. And when the feelings rose into a wave and then gradually lowered into a silent pain, he stopped singing. He now played the guitar a little more with familiar chords, letting the sound gradually fade. Around him, he suddenly left a silence. The entire crowd was silent. My touched her cheeks unexpectedly and felt a teardrop falling...

And then it seemed the crowd was suddenly awakened. Applause resounded like cascading rain. People put small change in the paper box beside him. So did My. Some people stepped away. Some lingered, wanting to know if he would continue singing. My came closer and said:
 “So sweet! Thank you, sir.”

He looked at her while nodding:
 “Thank you.”
My did not want to ask him to sing another song. The song he just sang was so beautiful that My wished to keep its echo in her mind. The man collected money from the box and put it in the pocket of his grey jacket. His hat was grey too. And grey clothing. Grey hair. And the traits of time were drawn on his brown, seasoned face. He looked like a copper statue.


It seemed he didn’t want to sing anymore, so he went to sit on a bench in the narrow corridor. Noticing that My was looking at his guitar, he gently asked:
 “What do you think about this guitar?”
My looked attentively at it. It was an old guitar. Its look was not special. But it was hard to imagine that this guitar produced a great sound recently. My thought a little, then replied:
“It’s a very good guitar!”
“Really?”
“Or rather... , you play the guitar very well, sir.”

The singer laughed:
“Really? I don’t think so. I only earn my living.”

“But you sing and play the guitar very well, better than the pros.”

He nodded repeatedly with a content look, and then he started playing a solo. My sat down beside him, listening quietly. “I only earn my living!".Through his austere appearance, My looked back on the troubadours on the streets of Saigon, on the piers, on the ferry-boats packed with people and all types of vehicles. Most of them were disabled, either innate, or from the traces of war. The poor lives! Day after day, the voice and the sound of music were not purely of art but like a mirror reflecting their entire infinite life. My sighed with pity. Then suddenly, looking over the artist here, My wondered how his life was.


The solo stopped. The old man turned to My, lightly smiled, then naturally he said:
 “My name is Louis. And yours?”

 “My name is My. M.Y. But just pronounce mi not mai.

 “Mi, means “me”, right?”
 “Yes.”
My smiled, feeling funny. “Oh, I am able to chat with him now!” she thought.

 
But My could not sit listening to him anymore, because she had to shop. My said goodbye to him. She walked into the shops, looking for clothes and toys. There were also some nice souvenirs to buy at the booths. Well! One gift for each person, but it was so heavy to carry. She didn’t forget to buy a bag of hot croissants at a French bakery which she liked very much. After a round, she came back and met Louis, who was singing and playing the guitar. There were still many people standing around him enjoying the music. But perhaps he could easily recognize My among those strangers as he squinted and smiled at her.


My waited until Louis had finished the song and sat. Then she came and offered him a croissant. He immediately accepted it and ate it with pleasure. He nodded repeatedly and said:
“You have a taste like mine. I like croissants too. In my hometown, there are also bakeries selling French breads like this. Well, actually in this country, we can find the same stores everywhere. But anything you eat at your hometown makes it different, doesn’t it?”

“Exactly. And your hometown?Where is your hometown?”
“Where the house of the rising sun is.”
“New Orleans?”
“Right.”
“Ah! Great! But why don’t you live there?”
“I come from a poor hometown with little job opportunities.  I am here to earn a living. It’s relatively easier to find a job here. Being a troubadour like this, I can make money fairly.”  

My was silent. Louis asked her:
“And how about you? Where is your hometown?”
“My hometown is very far from here. It’s Vietnam.”
“Vietnam? Is it Vietnam? I know. I have been there some time.”
My acclaimed:
“You have been in Vietnam?”
“Yes. I also went to many places, as much to the countryside. I made acquaintance of the troubadours in your country.”
“Really? ... Are you veteran, sir?”
“Yes! But now I live a normal life. I almost forget everything. By the way, does your family live here?”
“No. My parents and many of my brothers and sisters are still in Vietnam. I miss them a lot!”
“When will you go back?”
“I don’t know. Today I go to buy gifts for my loved ones little by little. I want to send gifts to them if I can’t go back this time.”
“Good! So I sing the song "Take Me Home, Country Roads" for you, okay?”
“Thank you.”
“But I won’t take your money anymore!”

 

2

 

Phố Hầm Atlanta”, the people in the city of Atlanta called it Underground. My thought the term "Phố Hầm", which she named by herself was rather quaint and special. Ever since she was a little girl, being born and raised in misty Dalat city of Vietnam, My almost had a strong attachment to basement architecture. Going to work at research institutes here and there, My had also been absorbed in the laboratories at "sous-sol",  also known as the basement; and to Atlanta, not only a basement, but also three or four basement floors. And here, both the old and the modern properties of Underground aroused much sympathy from her. My found herself wandering in Underground as if she was discovering enjoyable things. When she entered a shop that was filled with lights, she felt it was at night; but when she went to another place, it was the sunshine bathing all. There, My loved to stand taking photographs with icons in fairy tales or cartoons. They were much bigger than she was.

Most people who did business at Underground were black, as in many other places in Atlanta. Atlanta! This city was the hometown of "Gone with the Wind", of The Martin Luther King Jr. National Historic Center, of The Jimmy Carter Center, of The CNN Center, of The World of Coca Cola, ... and of Underground. My was familiar with those places, as well as the roads to the CDC and the Villa International on her poetic hills.

If My had not met Louis on the street playing the guitar, singing, or talking, she would surely have perceived him as normal as the people she encountered on buses, in restaurants, on the television screen, or even those who worked in shoeshine stores. Well, speaking of shoeshine stores, we had to emphasize its features. We could see a scene that had never been found in Vietnam. The customer sat on a chair placed on a large platform, about more than a meter high. The shoeshine man stood, not sat. He stood up straight, polishing the customer’s shoes. The first time seeing this, My was startled because she felt that the customer sat in a haughty manner, looking too bossy! But when she looked again and thought more, she noticed that the shoeshine man didn’t have to sit bending beside the customer’s legs. They stood straight as barbers, tailors, employees at the post offices or banks; or under My’s "professional distortion", as those who worked in the laboratory. But those are shoeshine men working in the shops. In the street, My still saw teens carrying portable boxes, just like shoeshine boys in Vietnam. They hustled onto buses or trains, huddling and talking and laughing unaffectedly.

 
Meanwhile, Louis represented another aspect of this city. Like all the troubadours in other places, he almost attached himself to Underground. He told My that he had been living alone in Atlanta for decades after his return to civilian life. He lived in a poor neighborhood in the suburbs, taking the train to Underground to earn a living by singing and playing the guitar every day. The money he earned was sent to help his relatives in New Orleans. He led a simple life so he didn’t need too much money. His music job seemed just to be a "hobby", but a money-making hobby, so he did not desire any more. Sometimes, while he was singing, there’s a far away look in his eyes. His guitar sound, although it was not as sobbing as the trumpet of Jack, his friend, performing in front of the restaurant too, was really strange. Sometimes it was as jubilant as the cheering of somebody being a long time away from home and now going back. Then sometimes it was like the choked voice showing the condition of people living in exile for hundreds of years, wishing to find their root.


This time My heard Louis sing the song "Georgia On My Mind." My usually listened to this song with the image of Ray Charles singing and playing the piano. But Louis with his guitar had a unique character. Playing guitar on a jazz song seemed a little strange. But Louis sang while playing the guitar very naturally, as if he was having heart-to-heart with the land where he lived in.

… Georgia, Georgia
The whole day through
This old sweet song
Keeps Georgia on my mind

Hey, Georgia, oh, yeah, yeah, Georgia
And a song of you
Comes as sweet and clear
As moonlight through the pines

Other arms reach out to me
Other eyes smile tenderly, yeah
Still in peaceful dreams I see
On another road, it leads back to you… (1)

When Louis ended the song, My had also finished her lyrics translation in her head. It was a poem. She cited it:

Chỉ một bài hát cũ

Giữ Georgia trong tôi

Đêm ngọt ngào quyến rũ

Qua hàng thông, trăng trôi

 

Như cánh tay vươn nhẹ

Như ánh mắt dịu dàng

Giấc mơ lành khe khẽ

Về đường tôi thênh thang

 

Louis looked so moved. He said:
“Your Vietnamese language is very beautiful. It's melodious as notes.”
“Thank you, Louis.”
Louis suddenly shouted:
“Ah! Why don’t you sing me and the audience a Vietnamese song? Can you accompany?”

“Yes. May I borrow your guitar?”

“Sure.”
 And he turned to speak to the crowd:
“Ladies and gentlemen, this is my friend. She will sing you a Vietnamese song.”
My felt shy. But trying to summon up her courage, My started to sing her favorite song since childhood:

“Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn, nước tuôn trên đồng vuông vắn, lúa thơm cho đủ hai mùa. Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê…”(2)
(There’s a lovely canal in my country, giving water flowing over the square fields that produce enough fragrant rice for both yearly harvest seasons. Late at night, the villagers listen to the charmed voice of rice resounding faintly…)

After singing the song, My summarized its content in English for the audience. Everybody applauded boisterously. My was not nervous any more. Louis blinked his eyes, touched by the song. It seemed like he was catching the common rhythm of the two songs. He stood still. Oh look! The crowd began a familiar move: they in turn put the money into his box. Many people shook hands with him, and with My also. My was so embarrassed, but felt a strange joy coming. Today My became an artist in the street. An artist of Underground!...


Louis collected money from the box then gave it to My and said:
“My, this is your money.”
My refused:
"No! It's yours. I just sing for fun.”
“No, for both. Will we share it equally?”
My busted out laughing:
“You are quite American-being fair. But allow me to offer it to the poor children in your hometown. Please!”
“Oh … Yes. So… on behalf of those kids, thank you very much.”

 

3

 

On the last week of August, My received bad news that her father was seriously ill. She flew to Vietnam soon. In early September, her father passed away. My stayed in Saigon for half a month to help her mother, brothers, and sisters hold funeral observances for her father and doing many other things. The pain of the loss occupied all her time and her mind. And then My had to return to Atlanta. Everyone’s stream of life must still flow in the given direction. Again, My was overwhelmed in daily work…

One Sunday morning, when the sun beams started dancing, causing peace to My, she felt the desire to go downtown. Downtown! A familiar thing, for only a few weeks became quite distant. My took a bus.

Underground was still bustling. It seemed there were more passers-by than before. My smiled quietly. Everybody seemed a little familiar with each other. “Because I think so, that’s all.” she thought. No wonder the residents of Villa International, where she stayed, used to utter "Home sweet home!” when they returned. Underground seemed sweetly welcoming her. My ran quickly to buy the familiar French bread and walked to the place where Louis used to demonstrate his shows.

He was not there! My ran to look for him at other places, but didn’t see him. Where did he go? Did he fall sick? My startled when she recalled that he was no longer a young man. She was bewildered ...

The trumpet!My heard the trumpet from afar. She arrived to the place in time to see Jack finish a song. Jack raised a hand in salute to her. My came close by and asked:
“Jack, do you know why Louis did not come here?”
Jack shook his head, answered:
“No. I have not met him since the end of last month. He told me that he must come back to New Orleans to visit his relatives and help them. Then Hurricane Katrina hit. So far, we have not seen him back. I do not know any more news.”
Noticing that My is dazed, he comforted her:
“I think it will be okay.  May God bless him.”
“Well, it will be okay.”  
My said goodbye to Jack. Underground was unusually deserted all of a sudden. The bag of bread in her hand was still burning hot. She wandered round the blocks. The stamping sound from the trains crossing viaducts prompted an image of a person on the way home. One foot was on the platform, the other was still on the train…

Well, I got one foot on the platform
The other foot on the train
I'm goin' back to New Orleans
To wear that ball and chain… (3)

My got out of Underground. The dazzlingly bright view appeared before her with a scintillating cascade. There were pigeons amusing the tourists. My opened the bag, took a croissant out, breaking it into small pieces and fed them. The birds ate their fill then called for each other and flew away together. But here stayed a bird. It did not move. My came closer. Well, it was a fake bird, a pigeon perching near the statue’s feet. It was just the statue of a man wearing a felt hat, with the head bowing, sitting on the stair-step beside a small roll of blanket. A homeless person! The statue was probably made of plaster, but the outer paint was grayish black as copper color. He was sitting relaxingly. Maybe he was also dropping scraps of bread onto the ground to feed this small bird. Behind him was a wall with water flowing spectacularly.  As well as so many tourists sitting on that low stair-step, he was there, quiet, but not lonely.

My sat next to the statue and became startled. She had long been familiar with this statue. She used to sit beside him to take a photograph every time she came to Underground. But never had she looked at his face carefully because it was almost hidden in the shade of the felt hat. Now she realized that his face looked like Louis so much. But no! Not only Louis, maybe this statue also looked like many people. Those were the very silent "artists" of Atlanta. They have come and gone. Maybe they would come back someday.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

--------------------------------------------------------------------------------- -------------------------------------------------- --------------------------------
Author's Note:
(1) extracted from the songGeorgia On My Mind”

(2) extracted from the song “Tình Hoài Hương” (Homesick Love)(Phạm Duy)

(3) extracted from the song “The House Of The Rising Sun”

 

 

 

Gieo hạt (Hình internet)

 

Ngày giỗ "Cha Đạo" 18/8

 

 

1

Làng Bồ Câu Trắng. My chỉ biết rằng đó là một ngôi làng do một vị linh mục từ Quảng Trị vào Bình Tuy lập nên để làm nơi trú ngụ cho các giáo dân của Người. Người mang một cô nhi viện và một trường học từ Quảng Trị vào. Do đó tất cả cư dân của Người đều là người Quảng Trị. Như em Phương vậy.

Ngày gặp em Phương lần đầu, My thấy yêu mến ngay đôi mắt đen láy của em. Em Phương chớp nhanh đôi mắt ấy, nói với My:

“Em vui quá, em đã gặp được chị.”

My chưa hết bồi hồi, lí nhí đáp:

“Chị cũng rất vui.”

Những câu đầu tiên họ nói với nhau là thế.

Ngày đầu. Phương tự mình ngồi xuống ghế, không cho My đỡ. My cố nén không cho vẻ cảm động lộ ra. My sợ một cử chỉ vụng về của mình sẽ khiến Phương mặc cảm. My quay mặt vào tường như để nhìn vào một tấm gương vô hình. My bắt gặp trong tấm gương ấy nét mặt đầy cảm xúc của mình, nét mặt muốn khóc.

Làng Bồ Câu Trắng. Dòng chữ rất quen thuộc mà khi gửi thư cho em Phương, My thường ghi lên bì thư. Nghe như tên một ngôi trường hay một công sở. Đơn giản. My chưa một lần đến đó. Nhưng My nghĩ mình sẽ đến đó. My vẫn tưởng tượng ra cảnh những đoàn người từ Quảng Trị chạy về nơi ấy trong “Mùa Hè Đỏ Lửa”,  tìm thấy một vùng đất mới có thể dung thân. Và vị linh mục đã từng gắn bó với họ khi mọi người ở vùng địa đầu, cùng chạy trong đoàn người ấy, đã tiếp tục chăn dắt, dạy dỗ đàn chiên hiền lành. Một tấm lòng từ ái. Cái tên “Bồ Câu Trắng” đã nói lên hết ước nguyện của Người.

My có một cái quán tính đáng ghét – My tự cho là như vậy – đó là cái gì trở thành thân quen rồi thì My không tìm hiểu gì thêm. Làng Bồ Câu Trắng đã như một cái tên quá quen.

Em Phương chỉ ở Sài Gòn một tháng. My đi học về, thỉnh thoảng ghé thăm em tại nhà của vị bác sĩ đỡ đầu cho em. Hai chị em thơ thẩn trong sân, ngồi bên nhau trò chuyện.

“Chị, mai mốt em về lại Bình Tuy, sẽ ít khi vào Sài Gòn, vì bác sĩ nói chân em không có gì để lo lắng nữa. Em sẽ tiếp tục đi học.”

“Chị sẽ nhớ em nhiều lắm. Chị sẽ có dịp lên thăm em.”

“ Hai chị em mình lại viết thư cho nhau nhé chị!”

“Phải, lại viết thư, em hở!”

“Chị nhớ ghi địa chỉ là…”

“…Làng Bồ Câu Trắng.”

 

2

Thương em Phương quá, em gái nhỏ mới bảy tuổi đã mang mệnh điêu linh với vận nước. Em đã kể nhiều về em cho My biết qua những bức thư từ lúc “làm quen”, vậy mà đến khi gặp em My đã không nén được nỗi bàng hoàng. Quê em ở ngoài vùng hỏa tuyến. Em đi lễ nhà thờ vào một buổi sáng Chủ nhật. Năm đó em mới bảy tuổi. VC pháo kích nhà thờ. Giáo dân người chết kẻ bị thương. Một mảnh đạn pháo cắt đứt đôi chân của em. Người ta tưởng em đã chết, nhưng em không chết, em cố gắng kêu lên: “Cứu con với!” Em được cứu, rồi được đưa lên tàu bệnh viện của Mỹ. Họ chữa lành vết thương cho em. Nhưng từ đó em gắn liền với đôi chân giả và một cặp nạng.

Em nhắc nhiều về gia đình, có bà ngoại, mẹ em và các em của em, kể cả người cha của em đã tử trận. Và không quên nhắc về một người cha chung, vị linh mục đã cùng dãi nắng dầm sương với giáo dân của mình. Thương em quá! Và thương cả vị linh mục nhân từ. Thương cả Làng Bồ Câu Trắng.

My chưa đi thăm được em Phương như đã muốn. Nhưng My đem hình ảnh “người cha” vào một câu chuyện. Truyện dài đã hình thành. Ngôi làng cũng ẩn hiện hình bóng thân thương của “Bồ Câu Trắng”. Khi đọc xong truyện dài của My, bác Chủ bút đã giao liền bản thảo cho người thư ký đánh máy. Bác khích lệ:

“Bác hài lòng truyện này lắm. Cháu đã gom góp, chắt lọc những con người thực tế để thành nhân vật.”

“Cháu cám ơn bác.”

Giống như những tác phẩm trước, mỗi khi bác Chủ bút “gật đầu” là chỉ độ một, hai tháng sau truyện đã xuất hiện trên kệ các nhà sách. Trình tự không thay đổi: tác giả viết tay trên giấy thường, nhà xuất bản cho người đánh máy ra làm vài bản để nộp xin giấy phép và đưa cho nhà in để sắp chữ. Đương nhiên là bản thảo viết tay được trả về tác giả để “giữ làm kỷ niệm”. Sau đó là chờ in. My thường xin phép bác Chủ bút để vào nhà in xem người ta sắp chữ. My cảm động lắm. Từng con chữ bằng kim loại nhỏ xíu được chọn sắp trên khung như trẻ em chơi “đồ hàng”. Vậy mà bao nhiêu sách báo đã được chào đời từ những món “đồ hàng” ấy.

“Còn dấu chân người”, tên của truyện dài đang chờ in.

Và… không bao giờ được in.

 

3

My ôm đống sách cũ đi cất. Ba má anh chị nhìn My ái ngại. Ai cũng muốn nói lời an ủi. Nhưng không có lời nào được thốt ra. My lên gác, ngồi xuống bên đống sách, giở ra xem lại từng cuốn sách đã xuất bản. Rồi còn một lô bản thảo nữa. Cũng may mình còn giữ được cả đây. May mà truyện nào họ cũng đánh máy rồi trả “bản gốc” về cho mình. May mà…

A, cuốn bản thảo mới nhất! Nó không có bản sách in. Nó như em bé trong bào thai chưa ra đời. My giở tập bản thảo ra. Có hình ảnh em Phương trong này. Nhưng là một em gái toàn vẹn, chạy như bay trên đồi nương rừng rẫy. Ai đó đã nói rằng người viết văn như là phù thủy, biến hóa cuộc đời theo ý muốn của mình. My mong muốn gì? My mong muốn ai cũng được nguyên vẹn, vui tươi và hạnh phúc. Vì thế em Phương tha hồ chạy nhảy, tha hồ làm việc với đôi chân thoăn thoắt của em. “Phù thủy” còn dựng nên cho em một người lính bị rớt máy bay và lạc vào rừng rẫy của em, để em yêu, để em hạnh phúc, để em buồn… Người lính đó là phiên bản tích tụ từ nhiều người lính mà My đã gặp. Chưa hết, “phù thủy” còn mang cả vị linh mục vào, để Người luôn là điểm tựa, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc vô tận cho đàn bé thiên thần trong truyện. Phải đặt cho Người một cái tên. My quên chưa hỏi tên thật của vị linh mục Làng Bồ Câu Trắng. Thôi thì không cần phải tên thật, truyện mà! Cha Đạo! Ồ, Cha Đạo! Sao mình lại tìm được một cái tên có ý nghĩa như vậy nhỉ! Vậy thì, vâng, Cha Đạo…

My ôm tập bản thảo trước ngực, tưởng như mình đang ngồi viết say sưa, thả những dòng chữ xuống trang giấy. Rồi My nhớ ra rằng My phải tìm chỗ để cất đống sách in và bản thảo này thôi. Đã hết rồi! Nhà xuất bản đã bị đóng cửa. Bác Chủ bút đã đi đâu rồi. Không còn tòa soạn, không còn báo, không còn sách. Tất cả đều bị cấm lưu hành.

 

4

Cha Đạo! Cha đã mang vết thương giùm người lính, mang giùm em Phương sự tật nguyền. Vị “Cha” ngoài đời chắc sẽ phì cười khi thấy mình hiện ra trong truyện. Nhưng… để xem thử nhân vật giống mình được bao nhiêu phần trăm.

Trích truyện:

“Trên khung cửa, một tấm áo đen xuất hiện. Một người tầm thước, tóc bạc hết phân nửa mái đầu, mang một đôi giày màu đen – chỉ chừng ấy, bộ áo, dáng người, mái tóc, nét mặt – đủ cho Trúc đoán người là vị cha chung của Cát Tường và bầy trẻ nhỏ.”

Ở một chương khác:

 “Bây giờ Trúc mới nhận thấy rõ dáng đi của Cha có vẻ hơi khập khiễng. Vì Cha đã già chăng? Có lẽ đúng. Ngay lúc đầu gặp Cha, Trúc đã thấy mái tóc của Cha bạc hết phân nửa. Không biết cuộc đời đạo hạnh của Cha bắt đầu từ khi nào. Nhưng chắc chắn Cha sẽ tiếp tục cuộc đời ấy cho đến chết. Vì Cha đã chọn làm người cha chung cho một đàn con nhỏ nơi đây rồi.”

Trong một đêm đầy sự sợ hãi:

“Cha đang cởi nốt chiếc giày còn lại. Cát Tường se sẽ quỳ xuống bên chiếc chân gỗ của Cha. Tự nhiên, nước mắt rơi xuống. Cát Tường khóc ngon lành…”

Rồi thì:

“Cái bóng áo đen của Cha Đạo quyện đầy khói, trắng mờ như mái tóc.” 

Đây nữa:

“Cát Tường run run bước tới, qua từng hàng ghế. Trước mặt Thập Tự Giá, cái hình hài thân quen đang lặng im như một chiếc bóng. Tấm áo đen cũng bạc màu như đất. Mái tóc trắng là hình ảnh cô quạnh nhất đời. Và đôi mắt, khi người quay lại, không phải là hai giếng khô hạn, mà đang rơm rớm lệ.”

“Cát Tường bàng hoàng ngước nhìn Cha Đạo. Ôi, trong đôi mắt già nua đang rơm rớm lệ kia, có phải đã chứa đựng cả tình thương bát ngát của Chúa? Cha đâu có bắt chúng con học thuộc lòng kinh sách, hay phải sống như các nhà tu. Vì Cha còn muốn có một ngày Cha gửi chúng con về đời. Nhưng Cha ơi, con đã thấy, cái hạnh phúc cá nhân, tuy hân hoan lắm nhưng dễ tan vỡ lắm! Cha không ép con sống đời đạo hạnh, nhưng khi con rời bỏ nơi này, không làm một cánh tay của Cha nữa, chắc Cha cũng buồn lắm. Chính đôi mắt của Cha, bao năm khô khan, hôm nay long lanh lệ, đã nói với con đầy đủ.”

“Cát Tường nhìn thấy Cha Đạo đang bước nhanh qua khoảng sân đất mềm. Phía trước Cha là bé Ngoan. Bước chân của Cha khập khiễng vội vã nhưng không đi mau bằng đôi chân của đứa trẻ. Cái chân của Cha! Cái chân gỗ! Cái chân của một thời trả giá cho cuộc đời vị tha, đạo hạnh, trả giá cho một con tim bác ái. Cái chân nhắc nhở cho một đêm ở làng cô nhi này, cái chân cứu người thương binh, đêm đã trở thành một kỷ niệm se lòng…”

My gấp tập bản thảo lại, khe khẽ thốt lên: “Cha Đạo ơi! Con thương Cha quá!”

Như đang thương tác phẩm chưa ra đời của mình.

 

5

 

My cố ý tìm kiếm em Phương. Ôi đã bao nhiêu năm không liên lạc với em. My vẫn chưa bao giờ đặt chân đến Làng Bồ Câu Trắng. Một sự thiếu sót quá lớn phải không? Và chắc là phải tìm bằng internet vậy. Internet, từ ngữ mà vào cái thuở chị em mình quen nhau chưa hề nghe nói đến. Cái thuở mà người ta muốn liên lạc với nhau thì gửi thư qua bưu điện là thông dụng nhất. Khẩn cấp lắm thì đánh điện tín hay còn gọi là “đánh dây thép”. Sang nhất là nói điện thoại. Nhưng bây giờ người ta khá quen với cái máy computer, vào internet, viết email… chưa kể những phương tiện khác. Thật là tiện lợi! Vậy sao mình không thử nhỉ? My gõ “Làng Bồ Câu Trắng”. Không có gì. Người ta không biết nên không có thông tin về nơi đó chăng? Phải rồi! Có lẽ sau cái ngày “Ba Mươi Tháng Tư” ấy Làng Bồ Câu Trắng cũng không còn. My thất vọng.

Mà Trời xui, em Phương lại tìm được My qua một trang “báo mạng”, do em đọc bài của My và xin địa chỉ email từ “chủ web”. Cám ơn internet!

Cha Đạo còn ở lại trong nước, em Phương chỉ biết đến đó, vì em cũng đã sang Mỹ. Bây giờ thì hai chị em có thể gặp nhau, nói chuyện điện thoại, email thăm nhau. My tiếp tục làm “phù thủy”, chắt lọc từ những nhân chứng sống để làm nên các nhân vật của mình.

Có lúc My nghe các bạn “méc” My rằng truyện dài “Còn Dấu Chân Người” đã “được xuất bản” ở trong nước. Mà My không biết. Ồ thôi thì mình đã ra đi rồi, coi như không còn sống. Nhà xuất bản có tìm cách liên lạc với My để “xin phép” – My nghe kể như vậy. Nhưng thôi. My không liên lạc, nhưng cũng ngầm cám ơn họ. Dù sao thì độc giả cũng đã có cơ hội đón nhận tác phẩm này.

Cái bóng áo đen mờ bụi, mái tóc trắng, nụ cười nhân từ của Cha Đạo vẫn luôn ẩn hiện trong tâm. Mà, ôi, Cha ơi, con chưa nhìn thấy Cha bao giờ!

 

6

Người bạn từ Việt Nam gửi cho My vài dòng tiểu sử của một người:

“Cha được thụ phong linh mục vào một ngày cuối tháng tư 1965, chỉ mười năm trước ngày Sài Gòn thất thủ. Ngay sau đó vị tân linh mục được điều đến vùng sát vĩ tuyến 17 làm phó xứ Đông Hà, Quảng Trị. Hai năm sau Cha lập cô nhi viện và trường Trung học Tư thục Đắc Lộ. Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, Cha gồng gánh trường Đắc Lộ và cô nhi viện vào Bình Tuy, lập nên xứ Đông Hà, lập làng Thiếu nhi Bồ Câu Trắng. Tiểu sử của Cha không phải là tiểu sử của một người khoa bảng với nhiều bằng cấp, học vị, chức tước, nhưng là tiểu sử của một người khai phá. Khai phá vùng rừng núi hoang vu cằn cỗi thành vườn tược trồng trọt và chăn nuôi trù phú. Khai phá những tâm hồn, những phận đời nghèo khổ vì chiến tranh, gieo vào đó những hạt mầm nhân ái bằng cuộc sống tận tụy, hy sinh, phục vụ.”

My thấy mình hóa thành Cát Tường của “Còn Dấu Chân Người”, chơi cút bắt với đàn bé ngây thơ, chạy băng qua nương rẫy, gặp lại “Cha Đạo” ở đỉnh đồi. Bóng áo đen của Cha bay nhẹ trong gió. Nỗi ao ước gặp Cha để nói câu “Cha ơi, con thương Cha” - như Cát Tường nói - được thỏa.

Và người bạn đã làm giúp My một việc. Bạn thuật lại:

“Cỗ quan tài đơn sơ được đặt gần sát nền nhà thể hiện sự khiêm nhường vâng phục của Cha lúc sinh thời, cuộc đời ấy vì người nghèo và mở ra cho người nghèo, như cuốn Kinh Thánh đặt trên nắp quan tài Cha đang lật đến những trang cuối, như khẩu hiệu Cha chọn khi được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục phó địa phận Phan Thiết vào năm 2001: Tin Mừng cho người nghèo khó.”

Vào lúc 0 giờ ngày 18/08/2014, Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, nguyên Giám mục Giáo phận Phan Thiết, Bề trên sáng lập Tu đoàn Bác Ái Xã Hội, đã được Chúa thương gọi về, hưởng thọ 82 tuổi.

 

Tháng 9, 2014

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư Quán Bản Thảo, số 61, Tháng 10/2014

 

 

 

 

 

 

 

Tranh: Vi Vi

Học trò thời nào cũng thường được gán ghép vào câu “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Trong đó, con gái cảm thấy mình bị oan, vì chẳng có mấy trò nữ sinh nghịch ngợm như con trai. Nhưng bọn con trai thì khỏi nói. Bảo họ ngồi im ngoan ngoãn thì chắc trời sập. Lúc nhỏ tôi vừa ngán vừa ghét những trò trai nghịch ngợm. Không ngờ đó lại là những gì in đậm nhất trong quãng đời đi học.

Năm Đệ Ngũ, tức Lớp Tám bây giờ, lớp tôi có những bạn trai vừa học giỏi vừa phá. Trường tư thục, nam sinh và nữ sinh học chung lớp. Nam ngồi một dãy, nữ một dãy. Coi vậy chứ cũng nề nếp lắm, không xâm phạm  gì nhau. Có điểm vui là nếu có sinh hoạt văn nghệ lớp thì có đủ nam nữ, không phải chạy đi đâu mà tìm. Các Thầy dạy học cũng cảm thấy vui, vì nếu Thầy mệt mỏi với các trò trai thì đã có các nữ sinh ngoan ngoãn khiến Thầy bớt giận.

Trẻ nhất trong các Thầy, là thầy Huy, dạy chúng tôi môn Đại Số. Môn này dễ học  nhưng khô khan. Thầy Huy hay nói chuyện vui trong lúc giảng bài nên chúng tôi đâm ra thích môn học này. Thấy Thầy vui tính, học trò dần dần “lờn mặt”. Thầy thường nhắc nhở nhẹ nhàng mỗi khi học trò vào lớp trễ hoặc quên làm bài tập ở nhà.

Nhưng bỗng một hôm Thầy Huy thay đổi thái độ. Thấy số học trò “quên làm bài” nhiều quá, Thầy nổi giận… Thầy quát to:

“Các em quỳ hết lên ghế cho tôi!”

Học trò nghĩ Thầy nói đùa. Không bạn nào làm theo lời Thầy. Thầy quát to hơn nữa:

 “Tôi bảo quỳ hết lên ghế.”

Bây giờ thì chắc là không phải nói đùa rồi. Các bạn đưa mắt nhìn nhau như để ngầm hỏi “Làm sao đây?”

Thầy Huy nói:

“Các bạn đã coi thường việc học, không tôn trọng kỷ luật học đường, làm sao ra đời xử sự đứng đắn trong xã hội?”

Thầy bắc chiếc ghế của Thầy ngay cạnh bục giảng, và Thầy quỳ lên chiếc ghế đó, ngay trước mặt học sinh. Chúa, Phật ơi! Cả lớp biết là chắc chắn rồi, không phải chuyện đùa. Mọi người răm rắp làm theo. Trong số nữ sinh có những bạn ấm ức lắm, đó là các bạn chăm chỉ lâu nay, bao giờ cũng làm bài, nộp bài rất sớm. Bây giờ các bạn phải bị quỳ không khác gì các trò “hư” kia thì tức lắm chứ! Trong số đó có tôi!

Một tiếng đồng hồ! Vâng, xin thưa, một tiếng đồng hồ, không hơn không kém. Quỳ trên ghế, nghe dễ dàng quá, nhưng cũng tê mỏi lắm. Thầy và trò đã quỳ trên ghế như thế một tiếng đồng hồ. Từ nhỏ đến giờ tôi chưa bao giờ bị ba má hay thầy cô bắt phạt như thế, lần đầu tiên nếm mùi bị quỳ, tôi xây xẩm mặt mày. Có một chút giận Thầy Huy, mà cũng cảm thấy thương Thầy làm sao!

Buổi học môn Đại Số kế tiếp chúng tôi không thấy Thầy Huy vào lớp. Thay vào đó, Thầy Giám Thị giới thiệu với chúng tôi một cô giáo mới, thay Thầy Huy. Còn Thầy Huy đã lên đường nhập ngũ.

Trong bức thư Thầy Huy nhờ Thầy Giám Thị chuyển cho chúng tôi, được anh trưởng lớp đọc lên, Thầy Huy nhắn nhủ chúng tôi hãy tập sống kỷ luật, hãy hòa mình vào nề nếp chung của tập thể, quan tâm đến người khác, và nhất là hãy siêng học.

Năm Thầy Huy lên đường là năm bắt đầu giai đoạn sôi bỏng của đất nước. Bọn học trò chúng tôi biết thêm một điều: chiến tranh.

Thầy Huy hết ở thao trường, ra chiến trường. Ba năm sau, chúng tôi được tin Thầy tử trận.

 

**

Ở lớp Đệ Tam, là lớp Mười bây giờ, có bạn Hoàng đàn guitar rất giỏi, ít ra là giỏi so với bọn chúng tôi lúc đó. Mỗi lần có sinh hoạt văn nghệ, lớp chúng tôi không lo thua các lớp khác, vì đã có Hoàng làm trưởng ban. Chúng tôi chỉ việc theo hướng dẫn của Hoàng là yên tâm. Giờ ra chơi, Hoàng thường rủ tôi ngồi ở cuối lớp, cùng hát với Hoàng. Các bạn thấy chúng tôi có vẻ thân nhau như vậy nên thường trêu chọc nhẹ nhàng. Mặc kệ, mình có làm gì đâu mà sợ! Tôi chỉ thấy mình quý mến Hoàng như quý mến một đứa bạn nhỏ. Giống như thời thơ ấu của tôi in đậm nét về bạn Thế Vân, học Lớp Ba, “biết” ưu ái làm riêng cho tôi chiếc vòng hoa tuyệt đẹp để tôi múa trong ban vũ của lớp. Hoàng cũng thế. Chỉ khác là học lớp lớn rồi, gọi nhau bằng tên chứ không gọi “trò” như ở lớp nhỏ.

Tết Mậu Thân, Hoàng về quê ngoài Huế. Hoàng kẹt lại trong chiến cuộc. Rồi sau đó, Hoàng không vào lại Sài Gòn nữa. Hoàng xin chuyển ra Huế học để gần gũi và giúp đỡ gia đình.

Ở những lớp học tiếp theo, mỗi năm chúng tôi có thêm nhiều bạn thôi học để vào lính. Chiến sự vẫn tiếp tục sôi động. Hoàng viết cho tôi lá thư đầu tiên, khi đã vào lính, nói rằng rất mến, rất thương tôi.

Đó cũng là lá thư cuối cùng.

 

**

Ở một góc rất đặc biệt của Sài Gòn, nơi có những cây to che mát con đường dẫn vào tòa báo, nơi có ngôi nhà thờ vang tiếng kinh cầu mỗi chiều, nơi có hang đá và tượng Đức Mẹ trông rất bình an, chúng tôi đã có những người bạn thân thiết. Các bạn gái đằm thắm, có bạn khá nhút nhát. Các bạn trai vui vẻ, tế nhị. Và có một vài “ông lính” ồn ào, cái ồn ào thật dễ mến. Chẳng ai ngờ có một cái xã hội thu nhỏ nơi góc đặc biệt đó. Trên có Cha Chủ nhiệm ôn tồn trìu mến, có bác Chủ bút nghiêm nghị mà ưu ái quan tâm tất cả mọi người, dưới có các anh chị trong Ban Biên Tập vui vẻ thân mật, các cây bút trẻ tuổi tụ họp hàng tuần chia sẻ với nhau vui buồn. Chúng tôi như cùng “lớn lên” trong bầu không khí đó.

Những người rất trẻ, nhưng ý thơ già dặn, như anh Long:

Bao kỷ niệm chiều nay như bừng sống
Anh nghe hồn nuối tiếc tuổi thơ bay
Thời hoa niên như màu nắng son gầy
Rất rực rỡ cũng rất mau tàn tạ

Thu Phương ơi ! Chiều nay anh nhớ quá
Dáng em hiền trong màu áo bao dung
Mấy năm rồi em có nhớ anh không
Hay đã quên vô tình trong hơi thở

Anh không trách vì em còn quá nhỏ
(Ngày anh đi tuổi bé mới lên năm)
Nếu bao giờ trong giấc ngủ thiên thần
Em chợt hỏi anh Long mô rồi mẹ

Thì lúc đó dẫu chân trời góc bể
Anh cũng nghe nắng lụa rớt đầy hồn…(1)

 Hay Thái:

Ngày bỗng lạ hơn những ngày qua khác

Giấc ngủ dài trăm mơ ước ngẩn ngơ

Em sẽ có chút đổi thay chất ngất

Ở trong hồn chớm nở nụ hoa mơ

 

Mùa thu về với thật nhiều bỡ ngỡ

Anh cũng về theo thành phố mù sương

Và có nghe xôn xao từng nhịp thở

Con chim khuyên vườn lạ hót yêu thương

Mimosa vàng sân trường đại học

Anh vào trường khẽ huýt sáo vu vơ

Trong trí nhớ cả một đời hạnh phúc

Sẽ chỉ còn trong mộng tưởng xa xưa (2)

 

Họ dạn dày với đời lính, nhưng giọng cười của họ thì hồn nhiên, sảng khoái lắm. Có lẽ mỗi lần được về phép, về đến tòa soạn, họ như gột bỏ hết phong sương, trở về làm trẻ thơ.

Những người bạn văn nghệ này đã ra đi không về. Họ để lại cho chúng tôi những dòng thơ đẹp mãi.

Đất nước tiếp tục sôi bỏng trong chiến tranh.

**

Như vậy đó, thế hệ của tôi, có những người lính không già.

 

Tháng Sáu, 2017

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

(1)   Chim Về Vào Ngày Tuổi Em - Trần Miên Trường, tạp chí Tuổi Hoa số 131, ngày 15/06/1970

(2)   Thơ Trang Vy, Tạp chí Tuổi Hoa số 227, ngày 1/10/1974