Những bài mới nhất

Tranh: Vi Vi

Học trò thời nào cũng thường được gán ghép vào câu “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”. Trong đó, con gái cảm thấy mình bị oan, vì chẳng có mấy trò nữ sinh nghịch ngợm như con trai. Nhưng bọn con trai thì khỏi nói. Bảo họ ngồi im ngoan ngoãn thì chắc trời sập. Lúc nhỏ tôi vừa ngán vừa ghét những trò trai nghịch ngợm. Không ngờ đó lại là những gì in đậm nhất trong quãng đời đi học.

Năm Đệ Ngũ, tức Lớp Tám bây giờ, lớp tôi có những bạn trai vừa học giỏi vừa phá. Trường tư thục, nam sinh và nữ sinh học chung lớp. Nam ngồi một dãy, nữ một dãy. Coi vậy chứ cũng nề nếp lắm, không xâm phạm  gì nhau. Có điểm vui là nếu có sinh hoạt văn nghệ lớp thì có đủ nam nữ, không phải chạy đi đâu mà tìm. Các Thầy dạy học cũng cảm thấy vui, vì nếu Thầy mệt mỏi với các trò trai thì đã có các nữ sinh ngoan ngoãn khiến Thầy bớt giận.

Trẻ nhất trong các Thầy, là thầy Huy, dạy chúng tôi môn Đại Số. Môn này dễ học  nhưng khô khan. Thầy Huy hay nói chuyện vui trong lúc giảng bài nên chúng tôi đâm ra thích môn học này. Thấy Thầy vui tính, học trò dần dần “lờn mặt”. Thầy thường nhắc nhở nhẹ nhàng mỗi khi học trò vào lớp trễ hoặc quên làm bài tập ở nhà.

Nhưng bỗng một hôm Thầy Huy thay đổi thái độ. Thấy số học trò “quên làm bài” nhiều quá, Thầy nổi giận… Thầy quát to:

“Các em quỳ hết lên ghế cho tôi!”

Học trò nghĩ Thầy nói đùa. Không bạn nào làm theo lời Thầy. Thầy quát to hơn nữa:

 “Tôi bảo quỳ hết lên ghế.”

Bây giờ thì chắc là không phải nói đùa rồi. Các bạn đưa mắt nhìn nhau như để ngầm hỏi “Làm sao đây?”

Thầy Huy nói:

“Các bạn đã coi thường việc học, không tôn trọng kỷ luật học đường, làm sao ra đời xử sự đứng đắn trong xã hội?”

Thầy bắc chiếc ghế của Thầy ngay cạnh bục giảng, và Thầy quỳ lên chiếc ghế đó, ngay trước mặt học sinh. Chúa, Phật ơi! Cả lớp biết là chắc chắn rồi, không phải chuyện đùa. Mọi người răm rắp làm theo. Trong số nữ sinh có những bạn ấm ức lắm, đó là các bạn chăm chỉ lâu nay, bao giờ cũng làm bài, nộp bài rất sớm. Bây giờ các bạn phải bị quỳ không khác gì các trò “hư” kia thì tức lắm chứ! Trong số đó có tôi!

Một tiếng đồng hồ! Vâng, xin thưa, một tiếng đồng hồ, không hơn không kém. Quỳ trên ghế, nghe dễ dàng quá, nhưng cũng tê mỏi lắm. Thầy và trò đã quỳ trên ghế như thế một tiếng đồng hồ. Từ nhỏ đến giờ tôi chưa bao giờ bị ba má hay thầy cô bắt phạt như thế, lần đầu tiên nếm mùi bị quỳ, tôi xây xẩm mặt mày. Có một chút giận Thầy Huy, mà cũng cảm thấy thương Thầy làm sao!

Buổi học môn Đại Số kế tiếp chúng tôi không thấy Thầy Huy vào lớp. Thay vào đó, Thầy Giám Thị giới thiệu với chúng tôi một cô giáo mới, thay Thầy Huy. Còn Thầy Huy đã lên đường nhập ngũ.

Trong bức thư Thầy Huy nhờ Thầy Giám Thị chuyển cho chúng tôi, được anh trưởng lớp đọc lên, Thầy Huy nhắn nhủ chúng tôi hãy tập sống kỷ luật, hãy hòa mình vào nề nếp chung của tập thể, quan tâm đến người khác, và nhất là hãy siêng học.

Năm Thầy Huy lên đường là năm bắt đầu giai đoạn sôi bỏng của đất nước. Bọn học trò chúng tôi biết thêm một điều: chiến tranh.

Thầy Huy hết ở thao trường, ra chiến trường. Ba năm sau, chúng tôi được tin Thầy tử trận.

 

**

Ở lớp Đệ Tam, là lớp Mười bây giờ, có bạn Hoàng đàn guitar rất giỏi, ít ra là giỏi so với bọn chúng tôi lúc đó. Mỗi lần có sinh hoạt văn nghệ, lớp chúng tôi không lo thua các lớp khác, vì đã có Hoàng làm trưởng ban. Chúng tôi chỉ việc theo hướng dẫn của Hoàng là yên tâm. Giờ ra chơi, Hoàng thường rủ tôi ngồi ở cuối lớp, cùng hát với Hoàng. Các bạn thấy chúng tôi có vẻ thân nhau như vậy nên thường trêu chọc nhẹ nhàng. Mặc kệ, mình có làm gì đâu mà sợ! Tôi chỉ thấy mình quý mến Hoàng như quý mến một đứa bạn nhỏ. Giống như thời thơ ấu của tôi in đậm nét về bạn Thế Vân, học Lớp Ba, “biết” ưu ái làm riêng cho tôi chiếc vòng hoa tuyệt đẹp để tôi múa trong ban vũ của lớp. Hoàng cũng thế. Chỉ khác là học lớp lớn rồi, gọi nhau bằng tên chứ không gọi “trò” như ở lớp nhỏ.

Tết Mậu Thân, Hoàng về quê ngoài Huế. Hoàng kẹt lại trong chiến cuộc. Rồi sau đó, Hoàng không vào lại Sài Gòn nữa. Hoàng xin chuyển ra Huế học để gần gũi và giúp đỡ gia đình.

Ở những lớp học tiếp theo, mỗi năm chúng tôi có thêm nhiều bạn thôi học để vào lính. Chiến sự vẫn tiếp tục sôi động. Hoàng viết cho tôi lá thư đầu tiên, khi đã vào lính, nói rằng rất mến, rất thương tôi.

Đó cũng là lá thư cuối cùng.

 

**

Ở một góc rất đặc biệt của Sài Gòn, nơi có những cây to che mát con đường dẫn vào tòa báo, nơi có ngôi nhà thờ vang tiếng kinh cầu mỗi chiều, nơi có hang đá và tượng Đức Mẹ trông rất bình an, chúng tôi đã có những người bạn thân thiết. Các bạn gái đằm thắm, có bạn khá nhút nhát. Các bạn trai vui vẻ, tế nhị. Và có một vài “ông lính” ồn ào, cái ồn ào thật dễ mến. Chẳng ai ngờ có một cái xã hội thu nhỏ nơi góc đặc biệt đó. Trên có Cha Chủ nhiệm ôn tồn trìu mến, có bác Chủ bút nghiêm nghị mà ưu ái quan tâm tất cả mọi người, dưới có các anh chị trong Ban Biên Tập vui vẻ thân mật, các cây bút trẻ tuổi tụ họp hàng tuần chia sẻ với nhau vui buồn. Chúng tôi như cùng “lớn lên” trong bầu không khí đó.

Những người rất trẻ, nhưng ý thơ già dặn, như anh Long:

Bao kỷ niệm chiều nay như bừng sống
Anh nghe hồn nuối tiếc tuổi thơ bay
Thời hoa niên như màu nắng son gầy
Rất rực rỡ cũng rất mau tàn tạ

Thu Phương ơi ! Chiều nay anh nhớ quá
Dáng em hiền trong màu áo bao dung
Mấy năm rồi em có nhớ anh không
Hay đã quên vô tình trong hơi thở

Anh không trách vì em còn quá nhỏ
(Ngày anh đi tuổi bé mới lên năm)
Nếu bao giờ trong giấc ngủ thiên thần
Em chợt hỏi anh Long mô rồi mẹ

Thì lúc đó dẫu chân trời góc bể
Anh cũng nghe nắng lụa rớt đầy hồn…(1)

 Hay Thái:

Ngày bỗng lạ hơn những ngày qua khác

Giấc ngủ dài trăm mơ ước ngẩn ngơ

Em sẽ có chút đổi thay chất ngất

Ở trong hồn chớm nở nụ hoa mơ

 

Mùa thu về với thật nhiều bỡ ngỡ

Anh cũng về theo thành phố mù sương

Và có nghe xôn xao từng nhịp thở

Con chim khuyên vườn lạ hót yêu thương

Mimosa vàng sân trường đại học

Anh vào trường khẽ huýt sáo vu vơ

Trong trí nhớ cả một đời hạnh phúc

Sẽ chỉ còn trong mộng tưởng xa xưa (2)

 

Họ dạn dày với đời lính, nhưng giọng cười của họ thì hồn nhiên, sảng khoái lắm. Có lẽ mỗi lần được về phép, về đến tòa soạn, họ như gột bỏ hết phong sương, trở về làm trẻ thơ.

Những người bạn văn nghệ này đã ra đi không về. Họ để lại cho chúng tôi những dòng thơ đẹp mãi.

Đất nước tiếp tục sôi bỏng trong chiến tranh.

**

Như vậy đó, thế hệ của tôi, có những người lính không già.

 

Tháng Sáu, 2017

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

(1)   Chim Về Vào Ngày Tuổi Em - Trần Miên Trường, tạp chí Tuổi Hoa số 131, ngày 15/06/1970

(2)   Thơ Trang Vy, Tạp chí Tuổi Hoa số 227, ngày 1/10/1974

 

 

 

 

 

 

Đường phố vắng, ngột, như trong giờ giới nghiêm
Bởi hôm nay họ mang em ra xử
Em có tội, là tội yêu lịch sử
Và thêm một tội nữa: yêu dân

Em yêu quê hương xanh đẹp vô ngần
Nên lên tiếng đấu tranh cho lẽ phải
Cả nước hôm nay giật mình, tê tái:
Mười năm tù dành cho một trái tim

Em nói hiên ngang: Nếu phải sống thêm
Đi lại từ đầu, em vẫn yêu tổ quốc
Em vẫn không muốn đau lòng vì quốc nhục
Vẫn muốn Việt Nam dân chủ, tự do
Vẫn muốn dân lành áo ấm cơm no
Được làm chủ rừng tươi và biển sạch
“Mẹ Nấm” ơi, bao trái tim rung cảm
Đất nước này rồi sẽ lớn, nhờ em.

 

 

(Cho Charlie P., trong tiếc thương vô bờ)

 

1

Hết đồi lại đến đồi. Khu Danville tràn đầy những ngọn đồi. Căn nhà của Chú và Dì cũng ở gần đỉnh một ngọn đồi.  Thơ mộng lắm. Những cây sồi đặc trưng của vùng này, ai đó đã trồng từ bao lâu không biết, điểm lác đác như những ông thần bảo vệ cho các ngôi nhà. Vườn tược xanh tươi, hoa cỏ óng mượt. Các loại hoa như thể chẳng ai trồng, cứ sau một cơn gió hay một trận mưa là được “cắm” xuống đất. Tự nhiên là vậy!

À, đừng quên nơi đây, khu “xóm” này, cũng là nơi từng có viên phi công tài ba hướng chiếc máy bay chở cả mấy trăm hành khách đáp nhẹ nhàng xuống dòng sông Hudson ở New York. Nhớ năm nào sau sự kiện “Hudson River” ấy, cả khu “xóm” nhộn nhịp hẳn lên và hầu như ai cũng thấy hãnh diện lây bởi người anh hùng đó. Chú và Dì thường vui khi nói về kỷ niệm này.

Thế mà đã mấy năm rồi. Thời gian đưa đẩy nhiều thứ trong đời đến và đi.

Chú nắm tay Dì. Trời! Đã quá quen từ mấy chục năm nay, sao mà vẫn nghe như còn mới?

“Ngồi xuống đây, để nói về những nắm tro.”

Ngày đầu tiên khi nghe về những nắm tro, Dì rất sợ hãi. Sao ông lại nói điều chi ghê gớm vậy? Lâu nay Chú vẫn chiều chuộng Dì. Nhưng bây giờ thì Chú xin Dì chiều Chú một chuyện. Nghe về những nắm tro. Có nghĩa là Chú đang tập cho Dì nghe, đối diện, và không hãi sợ cái chết. Dì không sợ nữa, nhưng nghe điếng cả lòng.

Mà không những thế, Chú còn tập cho Dì ngồi ăn một mình, xem TV một mình, đi phố một mình, làm mọi việc giấy tờ trong nhà một mình. “Một mình”, nhưng có Chú ở đàng xa nhìn lại. Hai người như chơi trò chơi “đồ hàng” của trẻ nhỏ. Đâm ra Dì cũng quen dần, hết phản đối.

“Mình nhớ không, cách nay hai năm, chúng ta đã theo tiễn bà Michelle ra biển. Tro của bà theo chiếc bình trong suốt đã chìm xuống, biến mất. Mình nói cảnh đó trông thật buồn.”

“Nhớ chứ! Thật là buồn mình ạ! Mình nè, ở quê tôi, người ta rải tro trên mặt sông hoặc biển. Tro sẽ hòa trong dòng nước và cũng biến mất theo một cách nào đó.”

“Có người muốn gửi hũ tro của mình trong nhà chùa, hoặc nhà thờ. Cũng hay há mình!”

“Phải. Cách nào cũng hay cả.”

“Còn tôi…”

Dì toan bụm miệng Chú lại nhưng đang có tiếng chuông điện vang lên. Dì đứng lên đi ra mở cửa.  Mấy bạn nhỏ đến thăm. Nói là “bạn nhỏ” nhưng có nghĩa là chỉ nhỏ hơn Chú và Dì thôi.

“Các bạn không quên hôm nay hát với chúng tôi chứ?”

“Dĩ nhiên là không quên. Dì cho tụi cháu mượn cây đàn guitar nghen!”

Thế là cây đàn được mang ra. Chú bảo đưa cây đàn cho Chú. Chú ngắm nghía và thở dài. Mọi người nhìn nhau. Chẳng là Chú đã chọn thật kỹ cây đàn này lúc Chú muốn “dợt” đàn trở lại. Bao nhiêu năm tháng bận bịu với công việc Chú đã không đàn. Trong thời gian làm bạn với các “bạn nhỏ” này Chú muốn học đàn lại, và đã sắm cây đàn này. Rồi Chú lại làm việc, lại bỏ quên nó. Bây giờ thì Chú lại không thể đàn. Thôi thì đứa nào đàn và hát cho Chú nghe bản “El Condor Pasa” đi, bản này Chú thích từ lâu lắm rồi.

“Thích làm chim sẻ hơn làm ốc sên, thích làm cây búa hơn làm cây đinh, thích làm rừng vắng hơn làm phố thị… Tôi nghe mặt đất ngay dưới chân mình…”

Bầu trời tự do, không khí tự do đang vây lấy Chú…

 

2

Tôi đã mất tự do. Hoàn toàn như thế. Tôi không được tự do làm những việc tôi muốn nữa rồi!

Trời xanh, đất rộng. Nhưng tôi lại không còn tự do. Mỗi ngày là một ngày tù ngục. Tôi phải uống vô số loại thuốc. Mỗi nửa tháng tôi phải đi cho thuốc vào người. Người ta nói thuốc mới không gây nhiều hiệu ứng phụ. Chao ôi, cái chữ “hiệu ứng phụ” này trước đây tôi từng cười khi nghe nói tới. Vì tôi nghĩ đó là do người ta tưởng tượng thêm ra mà thôi. Chịu khó một chút thì xong. “Không gây nhiều hiệu ứng phụ”, tôi tự tạo ấn tượng cho mình như thế. Và cũng để cho cô ấy yên tâm.

Tôi ngồi ăn cùng bàn với cô ấy, như xưa nay vẫn thế. Tôi đưa thức ăn vào miệng. Như là răng tôi đang chạm vào kim loại. Không mùi vị. Tôi cố nuốt, và mỉm cười với cô ấy. À, mình hãy chơi trò chơi “đồ hàng” với cô ấy, “giả bộ” không có tôi, cho cô ấy ăn một mình. Tôi bảo cô ấy quay lưng lại, đừng nhìn tôi, như vậy dễ “đóng tuồng” hơn. Và như thế là cô ấy ăn, tôi thì cố nuốt. Cô ấy không thấy gương mặt khổ sở của tôi. Một bữa ăn qua đi.

 

3

Những trò chơi “đồ hàng” cuối cùng hết tác dụng với Dì. Dì đã nhận ra sự gắng gượng của Chú. Dì van nài:

“Mình ơi, đừng vậy nữa! Tôi phải đối diện với sự thật, tôi chịu nổi. Mình không thể chịu đựng lặng lẽ như thế. Tôi cùng gánh với mình.”

Dì và Chú bước ra ngoài sân. Kìa, ngọn cây sồi! Đã bao nhiêu năm nay ngọn cây vẫn thế. Cây sồi không lớn thêm, hay đã lớn từ lâu. Chú nói:

“Mình coi nhé, cây sồi to lớn thế mà thua hoa hồng. Hoa hồng bé nhỏ mọc được trên ngọn cây sồi.”

Dì tưởng Chú nói sảng. Dì hoảng hốt sờ trán Chú. Không, Chú rất bình thường. Chú kéo Dì lại gần, hướng Dì nhìn theo một đường thẳng hàng với cây hoa hồng và cây sồi. Thì ra là thật. Hoa hồng nở trên ngọn cây sồi.

“Mình hãy hứa với tôi…”

“Hứa sao cơ?”

“Mình hãy hứa rằng mình đừng bỏ ca hát.”

“Tôi có phải ca sĩ đâu mà mình bảo thế? Hát hay không hát đâu phải là chuyện lớn, tôi chỉ hát cho vui với bạn bè.”

“Bởi vậy tôi mới nói. Mình rất thích hát mà! Chẳng là mình kể cho tôi nghe hồi mình còn bé mỗi lần đi hát về là mình bị đánh đòn, nhưng mình chấp nhận ăn đòn mà không thể bỏ hát.”

“Mình nhớ dai dữ!”

“Chuyện gì của mình tôi cũng nhớ dai.”

“Người ta gọi là “thù dai” đó! Mình nè, mình đau ốm, tôi chỉ muốn ở bên mình, không hát ca gì hết.”

“Nhưng cuộc đời không hát ca sẽ buồn chán lắm. Bây giờ đâu còn các cụ để đánh đòn mình. Tôi thì luôn ủng hộ mình. Tôi chẳng đã từng mặc áo dài, đội khăn đóng để diễn nhạc cổ với mình và các bạn đó sao? Đi đến các bạn Việt đi! Hát nhạc tình, nhạc hùng, ca Huế, ca cải lương…”

Hai người cùng cười vui vẻ. Ngọn cây sồi có hoa hồng nở. Dì đưa mắt nhìn Chú, cái nhìn biết ơn.

 

4

Chú té quỵ trên nền nhà. Dì đỡ Chú không nổi. Dì toan gọi 911, Chú không cho. Chú nói Chú còn gắng được, Chú phải gắng đứng lên.

Chú đã thôi vào thuốc, bác sĩ quyết định như vậy. Bác sĩ bảo Chú muốn ăn gì cứ ăn, không còn phải kiêng cữ nữa. Chú còn cười nói tếu với bác sĩ:

 “Tôi ăn…tới bến luôn ha bác sĩ!”

Thôi vào thuốc, muốn ăn gì thì ăn. Thế là quá rõ.

Nhưng rồi Chú không thể ăn gì hơn những bữa xúp.

Chú gắng đứng lên. Và Chú lại té quỵ. Dì cãi Chú, gọi 911.

Bác sĩ khám cho Chú, quyết định cho Chú hưởng “hospice tại gia.”

 

5

“Mình làm gì thế?”

“Tôi muốn mình ra thăm cây sồi và hoa hồng với tôi.”

“Được thôi.”

Dì loay hoay sửa soạn chiếc xe lăn. Cô Rice giành lấy, nói:

“Bà để tôi giúp. Bà ốm yếu bé nhỏ thế không làm nổi đâu.”

“Cám ơn cô.”

“Không có chi. Là nhiệm vụ của tôi thôi.”

“Không đơn giản là nhiệm vụ đâu cô! Chúng tôi thấy cô là một thiên thần.”

Cô Rice chỉ mỉm cười và cám ơn. Cô là một thiên thần thật đấy! Hàng ngày cô phải săn sóc, nói chuyện, an ủi, tắm rửa, giúp đỡ người bệnh, những người bệnh đặc biệt đang “hưởng chế độ hospice”, mà không chút biểu lộ sự mệt nhọc hay khó chịu. Nụ cười thiên thần, ánh mắt thiên thần! Cô Rice khéo léo đưa Chú vào xe lăn. Dì xin để Dì tự mình đưa Chú ra vườn. Chú nói:

“Tôi muốn đàn cho mình hát.”

Dì nhìn cô Rice. Cô khẽ gật đầu, và lấy cây đàn đưa cho Dì.

Vườn đồi xanh ngát. Cây sồi. Hoa hồng. Chú run run khi gảy lên dây đàn guitar. Chú nhìn ra xa, nói:

“Mình à! Đám cây sồi “xóm” này, cứ như là đã có từ lâu, do ông trời “cắm” xuống ha mình!”

“Phải. Ai cũng có cảm giác như vậy.”

“Cảm giác thôi! Thiên nhiên tự nó có, nhưng cũng phải có bàn tay con người. Như những cây sồi kia, chúng không phải tự nhiên mà có mặt trong vườn nhà Sullenberger, ở một vị trí đúng ý muốn như vậy. Phải có con người trồng nó. Nếu trồng từ hột lại càng công phu hơn và chờ đợi lâu hơn. Cao lớn như thế dễ phải trải qua hàng mấy chục hay trăm năm. Còn hoa hồng trong vườn mình cũng vậy, chẳng là chúng ta đã trồng những cây hoa hồng này sao? Nhưng vì chúng dễ trồng quá, cho nên chúng ta có cảm giác trời “cắm” chúng xuống giùm.”

Chú nói một hơi như người khỏe mạnh, dù giọng nói yếu ớt. Dì cười thật vui. Chú đàn cho Dì hát bản “El Condor Pasa”. Như thể Chú đang lấy hết sức lực để đàn. Dì chiều Chú, Dì cũng cố nhớ lời để hát. Dì không thường hát nhạc Mỹ. Dì chỉ quen hát những bài nhạc Việt Nam. Chú gật gù:

“Mình à, mình biết vì sao mà… “El Condor Pasa” không?

“Tôi chỉ biết đó là một bản nhạc hay, mình giải thích cho tôi nghe đi!”

Chú cười nhẹ:

“Giải thích thì cũng chỉ là giải thích theo cảm nhận của chính mình mà thôi. Tác giả đâu có bao giờ giải thích. Chà, có mấy ông nhạc sĩ cứ hay giải thích ý nghĩa bản nhạc của mình, thất bại quá hở! Bản nhạc tự nó đã nói lên ý nghĩa. Tôi hiểu vì sao cánh chim ưng bay qua. Đó là sự tự do cuối cùng. Tự do thoát khỏi kiếp làm ốc sên hay chim sẻ, thoát khỏi thân phận cây đinh hay cây búa, thoát khỏi kiếp rừng hoang hay phố xá. Tự do… thoát khỏi tấm thân đau đớn…”

Dì bật khóc. Chú nói, giọng nhẹ như sương:

“Tự do tuyệt đối. Tự do cuối cùng.”

 

6

Dì trao chiếc hộp trong có đựng khẩu súng của Chú cho người nhân viên được ủy quyền. Khẩu súng này gắn bó với Chú nửa đời. Dì hay nói với Chú một cách rất công thức: đó là khẩu súng “trừ gian diệt bạo”. Chú đã sống rất xứng đáng.

Cô Rice bước đến ôm lấy vai Dì. Rồi trong một cử chỉ đầy trân trọng và yêu thương, cô ôm siết Dì. Vòng tay cô ấm, chắc, như thể cô muốn truyền thật nhiều nghị lực cho người đàn bà yếu ớt này. Dì không khóc. Dì muốn cô Rice thấy Dì cũng sẽ mạnh mẽ như cô.

 

7

Vườn đồi xanh ngát. Cây sồi và hoa hồng.

Cây sồi là của nhà Sullenberger. Hoa hồng là do Chú và Dì trồng. Bây giờ Dì ngồi đúng vào vị trí hôm trước ngồi với Chú trong vườn. Dì thấy hoa hồng nở trên ngọn cây sồi. Thì ra đơn giản là vậy. Cây sồi cao lớn nhưng mọc trên đất của nhà bên kia là nơi sườn đồi thấp, còn hoa hồng bé nhỏ thế này nhưng mọc ở nơi đất cao. Miễn là mình ngồi đúng vị trí này, tầm mắt như thế này, là được.

Ào một cái. Dì nghe như tiếng phát ra từ đôi cánh của một con chim rất lớn. Dì ngơ ngác. Không có gì xung quanh cả. Chỉ có Dì và tiếng của thời gian, im lặng…

“Mình à, nhớ nhé, hãy cám ơn và từ chối mọi vòng hoa. Mình đã sống với thật nhiều hoa rồi. Mình hãy xin những thân hữu muốn mua vòng hoa thì để tiền ấy tặng cho Hospice of the East Bay, để những người như cô Rice có thêm phương tiện làm việc.”

“Vâng.”

“Mình hãy hứa với tôi, hãy tiếp tục bước tới, ngẩng cao đầu, đừng bao giờ bỏ cuộc.”

“Vâng.”

“Riêng tôi đã được tự do.”

Chú bao lấy Dì như một làn sương trắng. Dì đưa hai tay chới với níu giữ làn sương. Được một vài giây, làn sương vút bay lên cao, tiếng của Chú thoang thoảng:

“I love you.”

Và hết. Dì bàng hoàng.

Ngày đưa Chú vào nơi hỏa táng, Dì đã theo lời dặn của Chú, chọn chiếc bình hình con chim ưng. Nắm tro của Chú vào nằm gọn trong đó. Dì không đưa vào nhà thờ, không đưa vào chùa. Dì mang về nhà, đặt vào chiếc tủ kính, thắp đèn lên, thật ấm áp. Chú có đó hàng ngày, nhìn Dì, vui buồn với Dì. Có thể một ngày nào đó Chú cũng sẽ ra biển hay một nơi nào Chú muốn.

Cánh chim ưng đã bay qua. Chú đã được tự do khỏi thân xác. Tự do tuyệt đối. Tự do cuối cùng.

 

Tháng 9, 2014

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

http://camlinguyenthimythanh.com/

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

alt
 
Thầy Văn bước vào lớp. Như một thông lệ, cả lớp đứng dậy. Thầy đứng thẳng, yên lặng một giây, mặc nhiên là một hành động chào lại. Thầy trò lớp này vẫn là như thế.

Thầy ra hiệu cho cả lớp ngồi xuống, rồi bước đến bên bàn của Thầy, đặt chiếc cặp da lên đó, và nhìn một lượt khắp lớp. Đôi mắt Thầy dừng lại ở bàn cuối. Bốn đứa con trai chột dạ, không dám ngó Thầy.

Thầy bảo cả lớp mở vở ra chép bài. Mọi người nhìn nhau ngạc nhiên. Thường thì Thầy gọi học trò lên trả bài trước rồi mới cho chép bài mới sau. Ngạc nhiên, nhưng không ai dám hỏi Thầy một câu. Thầy đọc, giọng chậm rãi, rõ ràng. Thầy khác với cô Loan dạy Việt văn ở điểm là cô Loan thường nhờ một trò viết chữ đẹp lên bảng viết bài cho cả lớp chép theo. Còn Thầy, với giọng cứng rắn, sang sảng, Thầy như người thầy bậc tiểu học đọc chính tả. Đó, cái nề nếp của lớp này là vậy.

Lớp Chín A. Cái lớp học "anh cả" trong một ngôi trường tư thục nhỏ chỉ dạy bậc trung học đệ nhất cấp. Còn có một lớp Chín nữa, lớp Chín B, buổi chiều. Nhưng hình như trong cả trường chỉ có lớp Chín A này là sinh động hơn cả, theo nhận xét của các thầy cô. Sinh động là bởi vì hầu hết các học sinh đều học khá, hăng hái tham gia các sinh hoạt do trường đề ra: làm bích báo, làm văn nghệ, đi công tác xã hội... Sinh động là bởi có vài trò rất giỏi được cử đi dự thi toán, thi vẽ, thi văn chương toàn thủ đô Sài Gòn. A! còn nữa, mặc dù môn Anh văn chưa có trò nào được vinh dự đi thi nhưng học trò lớp Chín A cũng đã lập nên một "English speaking club" để trau giồi tiếng Anh và được Thầy hướng dẫn là giáo sư Anh văn dìu dắt. Có một môn học, vâng, có một môn, chưa bao giờ nghe nói đến đi dự thi hay thành lập câu lạc bộ gì cả. Đó là môn Công dân giáo dục. Đối với học sinh, không riêng gì học sinh lớp này đâu, học môn Công dân là một điều hiển nhiên, bởi vì chương trình đã là như vậy từ thuở nào rồi. Và đi học là phải học đều tất cả các môn, là bổn phận của học sinh.

Thế nhưng tuần rồi đã có một điều bất thường đối với Thầy: đó là sự vắng mặt của bốn nam sinh ngồi ở bàn cuối lớp. Họ là những học sinh học rất khá nhưng đã tình nguyện xin ngồi ở bàn cuối để các thầy cô đỡ phải cực khổ. Nhưng giờ Công dân tuần rồi, họ đã "cúp cua". "Cúp cua"! Nghỉ không có lý do ốm đau hay bận việc quan trọng được người nhà xin phép... thì gọi là "cúp cua". Thầy định tuần này  sẽ hỏi tội họ ngay khi vào lớp, nhưng rồi hôm nay Thầy không làm. Cả lớp như cũng chờ đợi chuyện đó xảy ra. Vài nữ sinh len lén nói chuyện thật nhỏ trong khi chép bài, Thầy nghe được nhưng lờ đi.

Và rồi bài cũng đã được chép xong. Thầy giở sổ điểm ra. Học trò chờ đợi Thầy sẽ gọi một ai đó lên trả bài. Nhưng cũng không. Ôi! Nếu có điều gì khó chịu nhất đời thì chắc là đây rồi! Cái im lặng thật đáng nể!

Bốn anh con trai ngồi ở bàn cuối lớp, dãy nam sinh, đưa mắt nhìn nhau. Và rồi một trò đứng dậy. Trò Bảo. Gương mặt sáng sủa, dáng người nhanh nhẹn, Bảo là nam sinh học giỏi nhất lớp. Bảo tiến đến bàn Thầy, đi ngang bao nhiêu dãy bàn trước sự ngạc nhiên dò xét của các bạn. Bảo nói với Thầy:
- Thưa Thầy, em xin được trả bài ạ!
Thầy hơi nghiêng đầu, nhìn Bảo, hỏi:
- Em muốn trả bài? Bài nào?
- Thưa Thầy, bài Công dân kỳ trước ạ!
- Kỳ trước?
- Dạ, bài "Quốc kỳ và Quốc ca" ạ!
- Em có bài đó sao?
Bảo đỏ mặt, giọng hơi ấp úng:
- Dạ, em đã mượn vở của bạn để chép ạ!
Nét mặt của Thầy có hơi tươi lên một chút, nhưng Thầy vẫn nghiêm giọng:
- Còn các em kia?
Ba nam sinh còn lại của bàn cuối đồng đứng dậy, nói:
- Thưa Thầy, chúng em cũng đã có chép bài rồi ạ!
Có vài tiếng xì xào trong số nữ sinh. Thầy giơ tay lên:
- Các em giữ im lặng. Thầy không có ý định gọi các em trả bài hôm nay.
Như không hẹn mà cùng có chung phản ứng, ba anh con trai tiến lên phía Thầy. Bảo nói thay cho cả bọn:
- Thưa Thầy, chúng em xin lỗi Thầy, tuần trước vì... ham coi "xi-nê" nên chúng em đã.. "cúp cua" giờ của Thầy. Chúng em đã biết lỗi. Xin Thầy ...
Thầy nói thật nhẹ:
- Không phải giờ của Thầy đâu! Giờ của các em đó chứ! Học là học cho các em mà! Thầy chỉ là người dẫn dắt.
Nhật, lớn tuổi nhất, nói khẽ:
- Thưa Thầy, chúng em hiểu.
- Các em về chỗ đi! Thầy không có ý định khảo bài các em. Hôm nay Thầy có một việc quan trọng để nói với cả lớp.
Cả lớp thở phào trong khi bốn nam sinh về chỗ, nhưng rồi một sự chờ đợi khác lại đến.
Thầy đứng trên bục giảng, nói như đang giảng bài:
- Hôm nay là buổi dạy cuối của Thầy. Thầy muốn nói ngắn gọn rằng Thầy sẽ tạm xa mái trường để nhập ngũ. Chắc chắn các em sẽ có một thầy hay một cô giáo mới phụ trách môn này. Nói chung, sẽ không có gì khó khăn cho các em cả đâu! Điều mà Thầy muốn nhắn nhủ các em hôm nay...
Đám học trò như nín thở. Thầy dừng lại một tích tắc vì nghe có tiếng than nho nhỏ từ dãy nữ sinh. Thầy nói tiếp:
- ... đó là hãy cố gắng học hành. Điều này nói ra có vẻ hơi thừa, nhất là đối với lớp này là một lớp khá ngoan, mà Thầy rất ưng ý. Thầy đã dạy ở nhiều trường công lập cũng như tư thục. Tính ý của học trò, Thầy đều hiểu hết. Học trò trường công phát triển đều nhau, không chênh lệch nhiều. Trái lại, học trò trường tư đa dạng hơn, do không có tuyển chọn qua những kỳ thi. Nhưng thú thật, Thầy quan tâm nhiều đến học trò trường tư. Tại sao vậy? Vì đó là bức tranh sống thật nhất của xã hội. Có những học sinh thật giỏi, thật ngoan, nhưng cũng có những trò thật kém, có những trò nổi loạn. Đúng không? Rất tiếc là Thầy phải rời bỏ cái khung đời này để bước vào một xã hội khác, sẽ rất khác: đó là quân ngũ. Thầy chỉ mong rằng, với những bài giảng về Công dân giáo dục mà Thầy đã gửi đến các em trong gần một niên học qua, các em sẽ không xem đó là những bài học bắt buộc, những bài chỉ nhớ để trả bài rồi sau đó quên đi, những câu chuyện qua loa không ăn nhập chút nào với cuộc sống. Mà các em hãy đem chúng vào đời như một hành trang quý báu. Thôi! Ý của Thầy chỉ có thế. Mai sau, mong rằng, có duyên, Thầy sẽ gặp lại các em.

Lần đầu tiên học sinh nghe Thầy nói những câu có vẻ văn hoa khác với cách nói bình dị của Thầy thường ngày. Sự im lặng như đã đến hết sức của nó, khi Thầy ngưng câu nói. Bình thường, nếu người ta chịu khó để ý, sẽ thấy mỗi khi xung quanh mình quá im lặng, có một thứ "âm thanh" nghe muốn vỡ tai, đó là tiếng rít "o... o" rất khó chịu. Thế nhưng, lần này, thầy và trò đã nghe được tiếng của một con ve bên ngoài cửa lớp. Thật sự là tiếng ve! Tiếng ve đầu mùa hạ! Con ve đậu trên một cái cây to trong sân trường rợp bóng mát hay chăng? Con ve cất tiếng hát, một lúc sau đã có tiếng của cả một bầy ve. Không hẹn mà cả thầy và trò đều nghe dâng lên một niềm cảm động.

*

Như thế đó, buổi dạy cuối cùng của Thầy Văn, thầy dạy môn Công dân giáo dục của lớp Chín A! Thầy rời mái trường vào đầu mùa hạ. Vắng thầy Văn, học với một cô giáo mới, cả lớp rồi cũng quen dần. Đám học trò, sau mùa hạ đó, cùng lên lớp Mười, lớn thêm được một chút, vì đã vào trung học đệ nhị cấp. Bốn đứa con trai, Bảo, Đăng, Nhật, Vũ, vẫn chơi với nhau khắng khít như trước. Nhưng không bao giờ họ dám lập lại một việc, mà đối với họ là một lỗi lầm. Đó là "cúp cua". Nhật, lớn nhất bọn vì gia cảnh nghèo phải bỏ học một năm, luôn tự nhận lỗi về mình vì đã "xúi dại" mấy đứa nhỏ hơn. Cả bọn bảo nhau nếu gặp lúc khác thì chắc chắn đã bị khiển trách và ăn mấy cái "trứng vịt" rồi!

Thầy rời mái trường vào đầu mùa hạ. Trong tâm luôn có tiếng ve làm Thầy nghe luyến nhớ. Những lần về phép Thầy thường đi ngang ngôi trường tư thục mà Thầy đã rất yêu mến này, đứng lại một lúc lâu, nhưng không vào. Thầy đã đi qua một khung đời rất khác. Bên đó là đỏ lửa. Ở đây là xanh trời. Thầy không muốn làm xao động không gian bình yên này.

Mấy mùa hạ đi qua. Học trò của lớp Chín A năm nào nay đã đến tuổi vào đại học. Lên đại học, không còn có môn Công dân giáo dục nữa. "Môn phụ" đã biến mất!
Thầy không có dịp về lại trường cũ, vì chiến trận đã đến hồi khốc liệt. Một ngày nắng lửa trên đồng hoang, Thầy gặp lại Bảo, người học trò trắng trẻo khôi ngô học giỏi ngày nào. Bảo tình nguyện vào lính, đã đi đánh trận nhiều nơi và mới được thuyên chuyển về đơn vị của Thầy. Bây giờ thầy trò cùng chia xớt với nhau từng bịch gạo sấy, mời nhau từng điếu thuốc. Tâm tình cũng dễ dàng bộc lộ. Bảo chân thành nói:
- Thầy ơi! Lúc em còn nhỏ, đi học tiểu học, nhìn người thầy như một người cha vì tuổi đời chênh lệch nhiều. Học bậc cao hơn thì khoảng cách tuổi tác giữa thầy và trò ngắn hơn; nhiều thầy mới ra trường, quá trẻ, chúng em có cảm giác như đó là người anh. Nhưng thái độ e dè đối với các thầy vẫn luôn có. Người thầy đứng trên bục giảng thật khác với người thầy trên chiến trường. Bây giờ, em mới thật sự học được bài học sống ở thầy. Thầy sống những gì thầy đã dạy.
Thầy giật mình:
- Em nghĩ như thế?
- Vâng, đúng là như thế, thưa thầy. Bọn chúng em, bốn đứa chơi thân với nhau, vẫn thường nói với nhau rằng sao chúng em lại làm ra một điều khó tha thứ. Sao chúng em lại "cúp cua" giờ Công dân? Chúng em ỷ mình học giỏi ư?.. Thầy ơi! Thầy có buồn chúng em không? Thầy có tha thứ chúng em không?
Thầy cười xòa:
- Bỏ đi! Thầy chẳng giận chẳng buồn ai bao giờ. Nói cho thầy nghe, mấy anh cùng "cúp cua" đó, ra sao rồi?
- Anh Nhật lớn nhất, đi lính trước em một năm. Sau đó đến em. Còn Vũ và Đăng đã vào đại học.
- Tại sao em không vào đại học?
- Thưa thầy, em muốn đi lính. Sau khi giải ngũ về em sẽ đi học tiếp ạ! Tuổi trẻ còn dài...
- Bây giờ thầy trò gặp nhau ở đây cũng là một trường học lớn. Thầy trò ta cùng học môn Công dân giáo dục phải không?
- Dạ.
Hai thầy trò cùng im lặng, lắng nghe tiếng đại bác vọng về từ xa...
Đêm đó, sau chuyến hành quân, Thầy bị thương nhẹ ở chân. Thầy ôm Bảo trong tay. Thầy vuốt mắt Bảo. Bảo đã làm được cái việc trả bài cho thầy. Một bài học sống.

*

Hết xuân đến hạ. Thu tàn, đông đến. Thầy đã trải cuộc đời trên chiến trường biết bao năm! Bị thương nặng, nhẹ cũng nhiều. Trong người của Thầy đầy những vết sẹo chiến tích. Nằm quân y viện to, nhỏ, hay dã chiến, cũng đã biết bao lần. Cả cái kinh nghiệm được đục khí quản để gắn ống thở tạm, hay đeo lủng lẳng một cái túi đi từ ruột ra ngoài, chờ chữa lành bên trong, Thầy cũng đã có nốt. Gia đình khuyên Thầy giải ngũ. Thầy không chịu. Thầy giã từ nghề dạy học luôn rồi! Gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, học trò... đến, đi, nhìn họ thành công, thất bại, sống, chết. Nhìn thấy đời mình cũng đã già dặn đi theo ngày tháng. Thầy cũng thèm trở lại bục giảng lắm chứ! Nhưng cứ mỗi một câu, Thầy nói với mọi người: "Chờ khi đất nước thanh bình..."

Và Thầy phải ngưng cầm súng. Thầy đi vào trại tù cải tạo, như hàng vạn quân nhân khác. Ước mộng của Thầy đã sụp đổ. Thôi thì cùng chia xớt với anh em đồng đội nỗi đau nhục này! Bài học Công dân giáo dục "Quốc kỳ và Quốc ca" nhức nhối trong lòng. Mỗi buổi sáng trước giờ đi lao động, Thầy và các bạn tù phải tập trung để chào cờ. Thầy nhắm mắt lại chặt đến nỗi nghe như dao đâm để thấy màu cờ vàng chan chứa. Thầy bấm vào tay mình bật máu để hát trong óc, hát không bằng lời: "Này công dân ơi!!!!..."

Thầy ra trại. Thân thể lại mang thêm một số thương tích vì "lao động". Cảnh sống đã thay đổi... Thầy tìm đến thăm một vài đồng nghiệp cũ, ngạc nhiên khi thấy họ đến trường dạy học trong những bộ quần áo quá dễ dãi. Ngày xưa các thầy cô đứng trên bục giảng ăn mặc nghiêm chỉnh, bây giờ các thầy đi giép hoặc "xăng-đan", các cô thì mặc quần đen áo cộc. Thầy cô dạy học xong, ra về, trước xe lủng lẳng mấy bịch cá, thịt, rau đậu mắm muối "tiêu chuẩn". Thầy lắc đầu ngao ngán. Thầy không thể làm gì hơn là chọn nghề mộc, một nghề có thể giúp kiếm sống qua ngày và không vướng bận tâm trí. Cái nghề của Chúa Giê-su khi còn nhỏ đây mà! Cái nghề Thầy đã học được ở trong trại tù. Cái nghề trong những nghề dạy cho con người ta tính kiên nhẫn và lương thiện.

Hết thời "thắt lưng buộc bụng", đến lúc "mở cửa", thành thị chen chúc người và xe. Nhiều khi Thầy ngơ ngác đứng nơi ngả tư đường, mấy mươi phút chưa băng qua được. Không có ai tôn trọng luật lệ giao thông. Đèn xanh đèn đỏ mọi người lờ đi như không thấy. Có khi Thầy não lòng khi một đám tang đi qua, không có ai nhường đường, hiếm có người ngả mũ chào người chết. Những gì gọi là bài học Công dân giáo dục đâu cả rồi? Người ta sống với "văn hóa phong bì", "thủ tục đầu tiên là tiền đâu", "mạnh được yếu thua"...

*

Thầy ra khỏi nước, như hàng trăm ngàn người khác. Thầy vào trường, làm học trò. Thầy hân hoan thấy lại màu cờ vàng một thời rực rỡ trong tuổi trẻ của Thầy. Thầy được tự do hát bài Quốc ca "Này công dân ơi..." mà không phải mím môi. Nhưng một thời Thầy rơi vào sự trầm cảm tột độ vì nghĩ đến quê hương đã khuất bóng. Thầy mang tâm trạng như những thầy đồ của một thời mất nước. Thầy đã không còn chỗ để trở lại bục giảng. Thầy nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Thầy luôn tự an ủi mình: "Quê hương không chỉ là mảnh đất, mà còn có cả tình người". Và... như thế, Thầy đã sống được. Thầy chọn làm việc trong ngành truyền thông và đã đến gần được với tâm tình người Việt xa xứ.

Vào một ngày, Memorial Day, Thầy cùng gia đình đi lên thủ đô. "Lên thủ đô!" Thầy nói rất tự nhiên như vậy rồi nghẹn lời vì nghĩ đến thủ đô của Thầy ngày nào. Thầy đứng bên bức tường trên đó ghi tên những người lính Hoa Kỳ bỏ mình trong chiến tranh Việt Nam, trong trí Thầy hiện lên tên của những người bạn bè đồng đội. Họ đã không có một bức tường để ghi tên! Thầy đặt một bó hoa xuống nơi chân tường. Một gương mặt rạng rỡ chợt sáng lên như được phát ra từ mặt đá hoa bóng loáng. Gương mặt của Bảo. Thầy lạnh người. Thầy muốn khóc.

- Thưa Thầy!
Thầy giật mình quay về hướng tiếng nói sau lưng. Thầy nhận ra ngay. Ôi! Là Vũ, cậu học trò liến thoắng, đã có lần "cúp cua" giờ Công dân.
- Thưa Thầy, gặp lại Thầy, em mừng quá! Thầy có khỏe không ạ?
- Thầy khỏe. Thầy cứ ngỡ... là trò Bảo.
- Bảo đã mất rồi, thưa Thầy, Thầy là người ở bên cạnh Bảo lúc ấy...
Thầy bùi ngùi:
- Phải... Gặp lại em, Thầy càng nhớ Bảo. Thế những người bạn thân của em ra sao?
- Anh Nhật ở lại trong nước. Anh ấy trở thành thương phế binh, hiện nay sống rất khổ cực. Đăng thì đi với gia đình sang Úc, cũng đã có việc làm tử tế.
- Còn em, em làm nghề gì?
- Dạ, em theo nghề giáo.
Thầy nói như reo:
- A! Vậy sao?
Vũ vui vẻ:
- Dạ, em dạy môn Civics.
- Môn Civics?
- Dạ, môn Công dân giáo dục, thưa Thầy!


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
 
Thư Quán Bản Thảo số 45 – tháng 1 năm 2011
 
 

Tranh: Vi Vi

Đoan đun thêm một cây củi vào lò. Cây củi hình như còn hơi ướt. Bọt nước tươm ra, kêu lèo xèo ở phần gốc. Khói tỏa lên làm mắt Đoan cay xé. Nhà ở thành phố, đun củi, khói luẩn quẩn khó thoát ra, làm tường nhà vàng vọt. Đâu cũng vậy thôi, Đoan nghĩ thế và thở dài.

Bạn Trâm chuẩn bị nồi để nấu cơm. Đoan nói:

“Khoan đã, Trâm, chờ mình một lát.”

Rồi Đoan mở túi xách, lấy ra một gói nhỏ. Trâm nhìn, tỏ ý chưa hiểu. Đoan nói:

“Mình có mang lon gạo.”

Đôi mắt Trâm mở to, rồi nhìn xuống, nhưng Trâm không phản đối. Trâm đổ “lon gạo” của Đoan vào nồi, rồi giở nắp thùng gạo lấy thêm hai lon nữa, đem vo.

Thấy Trâm buồn buồn, Đoan an ủi bạn:

“Trâm nè, ai cũng vậy, không phải chỉ tụi mình. Thời buổi này, gạo ăn theo “tiêu chuẩn”, không phải như trước. Tụi mình phải chấp nhận và… đừng nghĩ gì hết. Mình đi học, được bán gạo cũng khá, Trâm đừng lo. Má mình dặn đến thăm ai, ở lại ăn cơm, cũng nhớ mang phần gạo của mình.”

Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi. Và từ lúc nào, hai chữ “tiêu chuẩn” đã trở thành quen thuộc, thường nghe trong lời nói chuyện của mọi người. Gạo tiêu chuẩn, thịt cá tiêu chuẩn, đường tiêu chuẩn, bột ngọt tiêu chuẩn… nghe mãi thì quen.

Hai đứa nấu cơm, luộc rau xong, nhưng để đó. Ăn phải có giờ! Chờ mạ và em của Trâm về sẽ cùng ăn. Đôi bạn bắt đầu mang chồng nón lá ra, làm phần việc của mình: viền nón lá bằng chỉ màu. Không biết ai đó đã có sáng kiến viền nón thế này, trước đây Đoan chưa hề thấy. Có lẽ là để cho “màu mè” bắt mắt? Đoan và Trâm dùng kim lớn và chỉ len màu xanh hoặc đỏ vắt xung quanh vành nón, ra hình rẻ quạt ba chân, như dấu chân chim. Xem vậy chứ không hề dễ, phải làm sao cho đều và cho nhanh thì mới kịp giao. Tiền công thì rất eo xèo, mỗi cái nón viền xong chỉ được vài hào. Không chỉ việc này, mà Đoan cùng với nhà Trâm làm rất nhiều thứ việc lặt vặt khác để kiếm tiền, nào dán bao giấy, nào vẽ chụp đèn, nào kết nút áo, nào vấn thuốc lá… Chưa hết, hai đứa còn rủ nhau đi Lái Thiêu, Bình Dương mua đường tán ở ngay lò đường về bán lẻ. Thời thế tạo việc làm! Ai cũng muốn kiếm thêm chút tiền để mua gạo, mua thức ăn. Tất cả mọi thứ đảo lộn sau cuộc đổi tiền. Cách sống rộng rãi của người miền Nam dần dần mất đi. Cùng lúc với chuyện đổ ra làm những việc thủ công lặt vặt, là chuyện bán đồ đạc trong nhà để có tiền ăn. Cái gì cũng bán, từ cái tủ gỗ chạm xà cừ hay cái mâm đồng quý cho đến quần áo cũ, giấy vụn…

Viền xong chồng nón lá, hai đứa lên lầu. Từ ngày Trâm thi rớt Tú Tài và nghỉ học, đôi bạn chỉ còn gặp nhau vào cuối tuần. Những lần như thế hai đứa lại mang đàn ra đàn hát với nhau. Có khi ba của Trâm nói vui:

“Hai đứa ni, no cũng đàn, đói cũng đàn.”

Và ông cũng là người giúp đỡ hai đứa nhiều nhất. Ông gắn điện vào cây đàn guitar thùng của Trâm, ông lo dàn âm thanh cho lũ trẻ chơi đàn mỗi khi họp bạn, ông lăng xăng chụp ảnh cho lũ trẻ, loại máy ảnh to cồng kềnh, mỗi lần chụp xong một tấm hình lại phải quăng đi một cái bóng đèn.

Thế mà…

Hai đứa cùng thở dài khi nhìn thấy cây đàn và những tấm hình vui vẻ ông chụp cho lũ nhóc và phóng to treo trên tường. Trâm thốt lên:

“Nhớ Ba quá!”

Đoan cũng nói:

“Nhớ Ba quá!”

Rồi hai đứa nhìn nhau, ứa nước mắt.

Đoan biết ba của Trâm qua hình ảnh một ông già nhân hậu, tuổi ngoài bảy mươi. Ông là Thiếu Tá Bộ Binh đã giải ngũ rất lâu rồi, nhưng vẫn phải vác hành trang đi vào trại tập trung có tên “trại cải tạo”. Dù bề ngoài ông có vẻ khỏe mạnh, nhưng với tuổi tác của ông, người nhà không thể nào yên tâm cho được. Mạ của Trâm khóc hết nước mắt rồi cũng phải cam chịu làm người chinh phụ thêm một lần nữa. Thời gian đầu không có tin tức gì. Cho đến mấy tháng sau, nhà nhận được thư ông, nói rằng ông đang ở trại tù Suối Máu. Suối Máu, thế thôi! Không thư từ gì thêm. Không cho thăm viếng. Không biết ngày về.

Đoan đàn cho Trâm hát. Bài hát không còn vui vẻ. Giọng hát của Trâm như nghẹn lại. Tiếng đàn của Đoan nghe ray rứt. Ngày mai đến trường lại họp tổ, lại học chính trị, lại phê bình, kiểm điểm... Đoan chỉ còn đứa bạn này là không xa cách với mình. Thôi thì viền nón, dán bao, vẽ chụp đèn, vấn thuốc lá với bạn. Thỉnh thoảng lại rủ nhau đạp xe đi Lái Thiêu, đi Bình Dương mua đường về bán, thưởng thức tại chỗ những mẩu đường “rẻo” nóng hổi ngon như kẹo “sô-cô-la”, quà tặng của người chủ lò đường tốt bụng.

Trâm chợt ngừng hát, hỏi:

“Đoan ơi, không biết… Ba ở trong đó có được đàn không nhỉ?”

“Ồ, không biết đâu Trâm ơi! Mà dù họ có cho Ba đàn, Ba làm sao có cây đàn?”

“ Chắc Ba sẽ tự làm cây đàn. Ba giỏi lắm mà, cái gì Ba cũng làm được.”

“Ừ, Ba vẫn thường chế các dụng cụ cho tụi mình đó!”

“Không biết… Ba có phải làm việc nặng nhọc không nhỉ?”

“Có thể. Nhưng Ba đã già quá mà, chắc họ phải đối xử khá một chút.”

“Làm sao biết được. Ba ở tù mà!”

Hai đứa im bặt, chợt thấy mình ngô nghê như con nít. Đúng là không biết gì hết.

 

**

Suối Máu! Cái tên mới nghe thì sợ, nhắc mãi cũng quen. Đoan băn khoăn tự hỏi không biết cậu của mình có đang ở trại Suối Máu hay không. Và anh Đan nữa. Họ đều đã đi “trình diện” và chưa thấy nhắn về, chưa biết ở đâu.

Mỗi ngày, ở nhà dì, mâm cơm càng lúc càng buồn. “Buồn”, thật ra là khổ. Thịt cá hầu như còn rất ít, rau chiếm phần nhiều. Còn cơm gạo càng thảm hơn. Nồi cơm nấu xong nhìn thấy màu xám xịt. Cơm độn, màu khoai chiếm nhiều hơn màu gạo. Có khi đang nhai, trúng phải lát khoai sùng, nghẹn ngào không muốn nuốt. Gạo thì chẳng khá gì, chỉ là gạo mục, gạo mốc, có lẫn sạn và sâu. Có hôm dì reo lên vì đã “phát minh” ra cách mới để nấu bo bo cho mềm. Dì khoe đã tìm thấy chỗ có máy xay gạo, họ nhận xay bo bo cho vỡ nhỏ ra, vỏ hạt cũng tróc đi, nấu sẽ mềm và ăn không “chợt ruột.” Thật thế, sau một thời gian biết ăn bo bo, nhiều người đã bị chứng đi tiêu ra máu.

Thế nhưng cái khổ vì ăn vẫn không đáng kể. Cái khổ tâm của gia đình mới là quan trọng. Ánh mắt, vâng, ánh mắt của những đứa con của cậu, thật khó tả. Cậu vào “trại cải tạo”, một thời gian sau mợ gửi đám trẻ cho dì, mợ đi buôn cùng bạn bè để kiếm tiền nuôi con. Nói là “đi buôn” cho sang, mợ chỉ là buôn bán nhỏ, tìm những mối hàng như trà, cà phê, gạo, đi từ tỉnh này qua tỉnh nọ để bán. Những người “đi buôn” như mợ mang những cái túi như túi quần áo, đi trên những chuyến xe đò nhếch nhác, đa số là những chuyến xe đêm, trốn tránh bọn thuế vụ. Có khi cũng bị bắt vào trạm, bị tra hỏi, bị thu hàng, bị phạt tiền, mất trắng. Những đứa trẻ thiếu tình cha mẹ, dù sống an lành với bà con, vẫn như khắc khoải, như mong chờ một cái gì. Gia đình cậu mợ không thể trở về Đà Nẵng như những gia đình khác, như vợ con anh Đan chẳng hạn. Lũ trẻ không có chỗ để tiếp tục đi học. Không muốn ngồi chơi, hai đứa lớn, tuổi mười bốn mười lăm, ngày ngày vác túi trên vai đến nhà người bà con để vấn thuốc lá bán lẻ. Mấy đứa nhỏ ở nhà. Chờ, và chờ. Buổi tối, hai cháu lớn về nhà, người nhễ nhại mồ hôi, ánh mắt mệt mỏi. Những ánh mắt khi vào bàn ăn cơm mới thật là khó tả. Cơm độn. Cơm rau. Không có gì hấp dẫn. Cả nhà dì không biết phải làm sao. Mọi người ăn cơm nhưng tránh nhìn ánh mắt của nhau. Tội nghiệp.

Thương cậu và anh Đan đi mà chưa có tin về. Họ có ở đó, Suối Máu, hay không?  Suối Máu, nghe đã quen dù chưa đến. Nhưng có một điều khá chắc chắn, là ba của Trâm đang ở đó.

Ý nghĩ đến thật đột ngột nhưng đủ mạnh mẽ để Đoan chia sẻ với Trâm. Và, đôi bạn đã quyết định làm một chuyến đi.

 

**

Hai đứa không dám nói cho nhà biết, hẹn nhau ra ga xe lửa, đi từ Sài Gòn ra Biên Hòa. Mỗi đứa đi một chiếc xe đạp, chọn đi toa chở hàng để có thể bỏ xe đạp lên, nhưng người thì phải đứng vì không có ghế. Toa xe chật ních các bạn hàng, họ cũng đứng, bên cạnh là những túi, những bao, hoặc cả gióng gánh.

Vậy mà hai đứa cũng đã đứng được mấy tiếng đồng hồ trên toa chở hàng. Xe lửa chạy ì ạch, giục giặc như người say rượu. Lâu nay không ra khỏi thành phố, hai đứa ngắm cảnh bên đường như người lạ mới đến. Con đường này, Đoan giật mình khi nhớ đến những ngày ly loạn, chập chùng người và xe đổ về Sài Gòn từ các nẻo. Cũng con đường này, Thắng trở về trên xe tải thương của đơn vị. Trong tâm, vang vọng tiếng gọi như gió thoảng “Thắng ơi! Thắng ơi!” Đoan bàng hoàng. Thắng cũng như gió, đã biến mất.

Đến ga Biên Hòa, Đoan và Trâm xuống cùng với hai chiếc xe đạp. Hai đứa nhìn theo đoàn xe lửa tiếp tục chạy. Nó sẽ chạy ra đến Bắc.

Hỏi đường, và leo lên xe đạp, hai đứa đi vào một con đường gập ghềnh, trước đây có lẽ đã là đường nhựa nhưng giờ thì loang lổ những ổ gà. Ngừng lại trước một hàng rào với cửa ra vào hẹp chút xíu chỉ vừa đủ cho một người lọt qua, hai đứa bỗng hồi hộp và hơi sợ, khi thấy cái chòi canh trong đó có khẩu súng máy chĩa vào trong trại. Một người lính bộ đội mặt lạnh ngắt hỏi:

“Đi đâu?”

Đoan nói thay bạn:

“Dạ chúng tôi muốn hỏi thăm tin tức người nhà…”

“Người nhà là sao?”

“Dạ người nhà… học tập ở trong trại này.”

Người lính lắc đầu, vẫn giọng lạnh lùng:

“Không có cho thăm hỏi gì cả.”

Trâm nói nhanh:

“Dạ không, chúng tôi chỉ muốn biết ba của chúng tôi có được khỏe mạnh không, xin ông giúp giùm. Ba chúng tôi tên là…”

Giữa câu nói của Trâm, hai đứa kịp nhìn kỹ gương mặt người lính bộ đội này trẻ măng. Nhưng thôi kệ, cứ gọi là ông, không mất gì.

Đoan tiếp lời:

“Thưa ông, từ ngày ba chúng tôi đi… học tập, chúng tôi chưa được gặp. Ông đã già lắm rồi, không biết ra sao…”

Trâm cất giọng nài nỉ:

“Ông giúp giùm, cho chúng tôi hỏi thăm, ba chúng tôi tên là…”

“Không biết.”

Gương mặt kia vẫn lạnh lùng, như thể người này đã được dạy phải làm như thế, và chỉ được phép nói những câu ngắn ngủn. Hai đứa thất vọng. Bỗng chốc Đoan nhớ lại những câu chuyện cậu thường kể cho Đoan nghe, khi xưa cậu đã đối xử nhân đạo với những tù binh như thế nào. Ba của Trâm cũng vậy. Và Lưu, người bạn y tá quân đội của Đoan, người đã gửi một cái chân trong đất, khi đối diện với thương binh phía bên kia, cũng đã không ngại ngần băng bó, chữa bệnh cho họ.

Bây giờ đã khác. Họ là kẻ thắng.

Hai đứa không hẹn nhưng cùng đưa mắt nhìn vào trại. Khu đất khô khan hầu như không có cây cỏ mọc. Nhiều ngày không có mưa đã khiến mặt đất khô nứt. Xa tít bên trong là những dãy nhà mái tôn san sát nhau. Hai đứa cố nhướng mắt lên để nhìn. Không một bóng người. Chắc họ đã đi lao động ở một nơi nào…

Bỗng nhiên Trâm rơm rớm nước mắt, lại nài nỉ:

“Ông ơi!...”

Người lính xẵng giọng:

“Về đi!”

Rồi như để thị oai, hắn chạm tay vào khẩu súng máy. Hai đứa giật mình, nhìn nhau. Trâm lắc đầu, dắt xe đạp đi trước, Đoan làm theo. Hai đứa lên xe, đi ngược trở lại con đường đầy ổ gà. Buổi xế trưa, nắng gay gắt như vỡ vụn theo từng vòng xe.

**

Trước khi về đến nhà của Trâm, hai đứa đi ngang một nơi đông người đứng chen chúc. Thì ra là cửa hàng bán “cá tiêu chuẩn.” Trâm chép miệng, nói:

“Họ mua cá xô, Đoan ạ.”

“Ừ, cá xô.”

Như cũng đã quá hiểu, nghe quen rồi, chẳng phải thắc mắc nữa. “Cá xô” là cá đủ loại, cá tạp, người dân mua về muốn nấu món gì tùy ý, nhưng phải chuẩn bị tinh thần là có rất nhiều xương. Gặp lúc may mắn mua được cá nạc thì đỡ khổ, còn thường thì gặp cá lăn tăn, cá vụn, cá nát, cá ươn. Có người nói vui là “cá Liên-xô”. Có người chua chát nói “cá xô” vì người mua tuy xếp hàng nhưng phải xô đẩy nhau mới mua được. Mà không dễ gì được mua cá xô. Phải có sổ.

Thấy Trâm chạy chậm hẳn lại, mắt dáo dác, Đoan hỏi:

“Sao đó Trâm?”

“Ơ… Trâm coi có mạ hay em Trâm ở đây không.”

“À, mình xem thử có bác hay em không.”

Hai đứa cùng tìm. Không thấy. Trâm lẩm bẩm:

“Lạ vậy? Sao nhà không ra mua cá?”

Nghe câu nói này cảm thấy tủi thân quá, hai đứa im lặng. Tủi thân vì muốn có cái ăn thì phải xếp hàng, có khi dang nắng, đội mưa? Tủi thân vì mình tạm có cái ăn trong khi Ba ở trong trại không biết no đói ra sao? Không giải thích được. Cảm xúc hỗn độn trong đầu. Đoan thấy như mình bị say nắng. Mà thật, cả một buổi trưa đạp xe nơi vùng khô cháy đó, da của hai đứa đã sạm đen, đầu óc chơi vơi, chỉ muốn được ngả lưng đâu đó ngủ một giấc.

Đã về tới nhà. Trời đã tối nhưng không thấy đèn. Trâm và Đoan chạy vội vào, dựng xe đạp trong sân. Có người ở trong nhà. Tiếng khóc thổn thức vọng ra. Mạ và em Trâm trong đó. Trâm kêu lên:

“Mạ! Có chuyện gì?”

Đoan nhanh tay bật đèn lên. Ánh sáng chói lòa. Mạ và em Trâm ngồi ở phòng khách, vẻ mặt trông thật lạ. Mọi người nhìn nhau, câm nín trong một khoảnh khắc tưởng như vô tận.

Mãi đến một lúc, mạ của Trâm bật được tiếng nói:

“Họ tới nhà, báo… ba con đã mất trong trại vì bệnh kiết lỵ. Họ nói mình không cần làm gì hết. Họ đã chôn ba con trong trại… Con ơi! Mình ơi! Tôi chết mất!”

Trâm kêu lên:

“Không! Mạ ơi! Ba ơi!”

Đoan ôm vai bạn. Nhưng Trâm đứng cứng ngắc như một bức tượng đồng. Cảm giác của Đoan cũng mất hết. Trong một tích tắc, Đoan như thấy mình đang đứng trước cổng trại Suối Máu. Nắng chiếu chói lòa, nhức nhối. Một đoàn người lam lũ đi dưới nắng. Có cậu của Đoan trong đó không? Có anh Đan trong đó không? Một ông già ngã quỵ. Người ta đưa ông vào một trong những dãy nhà lợp tôn. Căn bệnh quái ác hành hạ ông, hành hạ nhiều người khác. Bệnh dịch.

Ông già yêu văn nghệ, người lính già giải ngũ đã lâu, ở trong đó có được đàn không nhỉ? Mà dù được, thì đàn đâu ông đàn? Chắc ông sẽ tự làm một cây đàn. Ông giỏi lắm mà, cái gì ông cũng làm được…

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

2017

Thư Quán Bản Thảo số 74, tháng Tư 2017