Những bài mới nhất

 

 

 

 

 

Hình: Father and son (internet)

"Sáu mươi năm rồi con ạ!"

"Dạ, đã sáu mươi năm."

Im lặng.

"Ba mươi chín năm rồi Ba ạ!"

"Phải. Đã ba mươi chín năm."

"Mỗi năm mình đều phải làm toán lại Ba à! Con làm toán cộng. Con vẫn không tin ở tài làm toán của mình. Bài toán rất đơn giản. Chỉ có cộng một vào con số có sẵn."

"Phải. Đơn giản mà rất hóc búa."

Cha con tôi lại im lặng. Tôi biết trong khối óc còn rất tinh tường của ba tôi, những tháng năm xa xưa đang trở lại. Như một đoạn phim. Tôi ước gì người ta có thể sửa đổi như sửa đổi những đoạn phim hoặc những đoạn thu âm một cách dễ dàng. Xóa đi và làm lại. Kỹ thuật, chuyện nhỏ! Nhưng những đoạn phim đời của chúng ta, không thể làm gì được. Không xóa đi và làm lại. Mỗi năm tôi đều phải làm một con tính cộng. Ba cũng vậy.

Tôi thu dọn căn nhà lại cho Ba. Trong căn nhà này, Ba và Mẹ đã có nhau. Sau khi Mẹ mất, Ba không muốn dời đi đâu cả. Ba sống thoải mái một mình. Mỗi ngày chúng tôi đều thay nhau đến với Ba. Vậy là Ba đã cảm thấy đủ. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa ngăn nắp. Tôi chỉ việc hút bụi, và trang trí một chút cho vui. Ba còn dặn khi nào Ba quá lú lẫn rồi thì các con cứ gửi Ba vào “nursing home”. Chúng tôi nói chắc không bao giờ đâu, vì Ba luôn khỏe khoắn mà. Nói thế rồi tôi cũng nghĩ rằng cho dù Ba có thế nào, chúng tôi cũng sẽ săn sóc Ba tại nhà. Ở nhà, Ba sẽ luôn "có" Mẹ bên cạnh.

"Ba! Cái tấm hình này..."

"Chi đó?"

"Tấm hình nhà mình chụp chung... lâu lắm rồi, Ba xem này, giấy hình đã ố vàng."

"Đưa Ba xem. À phải, tấm hình chụp năm 1954, trước nhà mình ở Hà Nội. Sau đó… gia đình mình đã ra đi."

"Dạ. Lúc nhà mình ra đi, con mới có sáu tuổi, nhưng tới bây giờ con vẫn nhớ."

"Con giỏi lắm!"

"Con nhớ lắm Ba à! Lúc xuống tàu, cảnh thật là hỗn độn. Ba Mẹ chỉ mang một ít vật dụng thật cần thiết, và vài món quý giá. Con giành mang cái túi đựng những vật quý giá đó, chỉ là hình ảnh của gia đình. Sau này con thấy quý thật, vì vàng bạc mình còn sắm lại được, còn hình ảnh thì không.”

“Đúng đó con! Quý lắm!”

Hai cha con giở lại quyển album. Những kỷ niệm êm đềm ở quê cũ Hà Nội lần lượt hiện ra. Tôi dạo đó còn bé quá, chỉ là một cậu nhóc mới vào tiểu học. Trí óc non nớt của tôi còn lãng đãng những câu chuyện Ba Mẹ kể về trận đói năm Ất Dậu 1945. Họ hàng của tôi nhiều người đã chết trong trận đói ấy, lúc tôi chưa ra đời. Thế nên tôi chỉ nghĩ về chuyện ấy như một sự kiện lịch sử mà mình được học. Nhưng với Ba Mẹ thì khác. Đó là những gì họ phải chứng kiến, nên tôi biết trong lòng Ba Mẹ không bao giờ nguôi được những nỗi kinh hoàng.

“Con xem, tấm hình này, chụp lúc mình mới về định cư ở Đà Lạt. Ba Mẹ làm vườn để sinh sống, nuôi các con. Vất vả lắm! Nhưng mình đã có một thời bình an.”

Tôi nghe như thật sâu trong câu nói của Ba có một tiếng thở dài. Phải, nhà mình đã có một thời bình an. Khi đã quen với cuộc sống mới, có một mái nhà, Ba bắt đầu đi làm lại tại công sở. Mẹ tiếp tục công việc vườn tược. Trời thương nên rau trái tốt tươi, Mẹ thuê được người cùng làm vườn nên đỡ vất vả hơn. Ba anh em chúng tôi lớn lên.

Nhưng mỗi khi nhìn bé An, em gái út, chúng tôi không khỏi tội nghiệp cho em. Cái cảnh cả nhà chen chúc lên “chiếc tàu há mồm” tại cảng Hải Phòng chúng tôi nhớ rất rõ. Mẹ lúc đó còn mặc áo dài, nách em An một bên, tay kia dắt em Thành. Ba và tôi mỗi người một cái túi. Ba xách cái túi to đựng vật dụng cần thiết của cả nhà, tôi vác cái túi nhỏ vừa đủ đè oằn vai thằng bé sáu tuổi. Có một lúc dòng người như sóng cuộn xô đẩy vô tình, em An bị đám đông làm ngộp thở. Em khóc không thành tiếng. Cánh tay em bị nhiều người xô mạnh, em đau đớn gần ngất xỉu. Em mang tật nơi khuỷu tay từ dạo ấy. Em Thành và tôi cũng suýt bị chẹn ngộp thở. Và cuối cùng, chúng tôi cũng lên được trên tàu. “Chiếc tàu há mồm”, kỷ niệm sâu đậm trong đời của chúng tôi!

 

Hình minh họa: Di cư (tài liệu internet)

 

***

 

Bài toán đơn giản mà rất hóc búa. Không phải chỉ có cộng một vào con số có sẵn. Mà đúng ra là phải lấy năm hiện tại trừ đi năm đó. Năm đó là gì? Là cái mốc thời gian ai cũng nhớ. Ba thì trừ với năm 1954. Tôi thì trừ với năm 1975. Tôi rùng mình. Cái ý nghĩ mình cứ làm toán trừ hay toán cộng mỗi năm như vậy thật đáng sợ. Tôi bây giờ không phải là cậu bé sáu tuổi hay chàng thanh niên trẻ trung lanh lợi, mà đã thành một người có tuổi, mái tóc điểm nhiều sợi bạc, và cũng đang nặng gánh gia đình. Tôi sẽ làm toán cộng như thế này mãi ư? Và để làm gì? Một công việc, tuy chỉ là một động tác nhỏ, nhưng sao nặng nề quá, và đủ sức làm đau nhói trái tim.

Hôm nay tôi đưa Ba ra bãi biển. Cả hai cha con không hiểu sao bỗng dưng cùng muốn ra biển. Ba nói sắp đến Lễ Phục Sinh. Mùa Phục Sinh năm đó trùng với những ngày cuối của Miền Nam. Tôi cũng nhớ rất rõ chuyện ấy. Lúc đó tôi không phải là cậu nhóc con, mà là một thanh niên. Vâng, một thanh niên đang khoác màu áo lính. Những đoạn đường chiến binh gian khổ tôi hầu như đã nếm trải. Bước chân tôi đã đi khắp mọi miền. Cho đến ngày mất Miền Nam, tôi theo bạn bè chạy về chốn địa đầu. Tôi đã trôi dạt ra xứ biển. Nơi đó, đất mũi Cà Mau, tôi ẩn thân rồi ra khơi trong một ngày đầu tháng Năm…

… Biển ở đây lạnh. Cha con tôi không thể tắm. Ba cùng tôi ngồi trên cát, không ai bảo ai điều gì, yên lặng ngó ra chân trời phía tây nam. Đôi mắt Ba bỗng như dâng lên một chút sóng.

“Ba!”

“Gì con?”

“Có phải… Ba đang nhớ…?”

“Ừ. Ba nhớ quá, Việt Nam!”

“Con cũng vậy.”

“Những ngày đó, con đi đâu mất tích. Còn Đà Lạt của mình cũng đã thua. Mọi người kéo nhau về Sài Gòn. Lại làm dân di cư. Ba Mẹ tiếc vườn rau trái của mình quá! Yêu Đà Lạt như yêu Hà Nội xưa vậy. Cho nên sau đó lại trở về. Trở về để phải chịu những điều cay đắng.”

Phải, Ba Mẹ đã chịu cay đắng. Ba phải đi “tập trung cải tạo” mấy tháng vì là viên chức chính phủ, Mẹ ở nhà chịu cảnh “đánh tư sản mại bản” vì nhà có chút của cải do kinh doanh nông sản mà có. Lại trở về hai bàn tay trắng. Thằng con trai lớn đi biệt tăm. Hai đứa còn lại học hành lay lắt, chán chường…

Bỗng Ba đổi giọng hơi vui:

“Nhưng Trời sắp đặt cả con ạ, rồi con cũng đã đem hết nhà mình qua đây. Mình không còn được sống trong đất nước của mình nữa, nhưng đã hưởng một đời tự do. Mẹ con cũng có một khoảng thời gian sung sướng trước khi lìa cha con mình. Ba nghĩ Ba không có gì để luyến tiếc cả.”

“Ba!”

“Phải. Thật sự thì Ba vẫn luôn mong có ngày Ba về lại quê nhà. Nhưng nơi chốn này cũng gắn bó lắm chứ! Con có nhớ câu hát của Nguyễn Đức Quang không? “Xin nhận nơi này làm quê hương dẫu cho khó thương.” Đất nước này cũng đầy thương khó, nào thiên tai, nào khủng bố, nào xung đột màu da… Nhưng đây vẫn luôn là một đất nước đẹp xinh và hào hiệp, ai mà không yêu mến?”

 

Hình minh họa: Vượt biển (tài liệu internet)

 

Ba vùi đôi bàn chân trong cát ướt, nói nhẹ:

“Cát êm quá con ạ! Thật là dễ chịu!”

“Dạ.”

“Ba cứ ao ước cuối đời sẽ về Việt Nam, để được chết ở đó. Nhưng ngày nào còn chế độ độc tài, ngày nào chưa có tự do, Ba sẽ không về.”

“Ba, ngày đó sẽ tới.”

“Nhưng lâu quá con ạ! Chắc hết đời Ba vẫn chưa thấy đâu cả. Mỗi năm lại phải làm bài toán cộng, Ba thấy mòn mỏi quá!”

“Ba, Ba đừng nghĩ tới chuyện đó nữa đi Ba!”

“Ừ, Ba sẽ không nghĩ tới nữa. Ba thật sự thương cái xứ này.”

Tôi kéo Ba đứng dậy. Tôi thấy mình bé lại, như thằng nhóc sáu tuổi ngày xưa. Hai cha con đi dọc theo bờ biển. Những con tàu nhấp nhô phía xa tít ngoài khơi. Tôi nghe Ba nói như reo:

“Trông kìa! Chiếc tàu há mồm!”

**

Căn nhà của Ba, mỗi lần tôi đến, tôi đều dọn dẹp lại một chút. Ba vốn tính trật tự, nên nhà cửa cũng ngăn nắp lắm. Những ngày khác, các em tôi cũng làm như vậy. Rồi hai cha con cùng nấu ăn. Ba thích công việc ấy. Chẳng bù với thời gian xưa, lúc Ba làm công chức, về nhà Ba chỉ đọc báo, nghe radio, rồi dạy các con học. Bây giờ chúng tôi đã “già đầu”, bay nhảy tứ phương, Ba nói “Ba không còn chữ để dạy”…

Lần này tôi đến, cũng dọn dẹp căn nhà cho Ba. Tôi thừ người nhìn đồ đạc hơi bề bộn một chút. Chẳng là trong cái đêm đưa Ba đi cấp cứu, chúng tôi đã không kịp thu dọn. Đêm đó là phiên tôi ở lại với Ba. Cả ngày Ba vẫn khoẻ, tự nhiên đến đêm Ba làm mệt. Ba nói ngực của Ba đau lắm. Tôi gọi xe cứu thương rồi báo cho hai em. Vào bệnh viện, Ba mất. Trái tim của Ba không muốn đập nữa. Ba ra đi rất an lành.

Những ngày trước khi Ba đi, trong tháng Tư, tôi thường được anh em bạn mỗi lần họp mặt yêu cầu tôi hát bản “1954 Cha Bỏ Quê, 1975 Con Bỏ Nước” của Phạm Duy. Họ biết hoàn cảnh của gia đình tôi cũng giống như thế. Khi tôi hát, tôi thấy cả nhà mình đang ngồi san sát với các di dân trên “chiếc tàu há mồm”, bỏ quê. Tôi thấy khu vườn rẫy của nhà tôi xanh tươi ngút ngàn ở Đà Lạt. Tôi thấy anh em chúng tôi vui đùa học tập bên nhau, Ba Mẹ tràn trề hạnh phúc. Rồi tôi thấy tôi âm thầm đi về xứ biển địa đầu, lên chiếc thuyền nhỏ dập dềnh ra đi… bỏ nước.

Lúc Ba ra đi cũng là mùa Phục Sinh. Khi đưa Ba đi vào đất, tôi nhìn ảnh Ba, chợt cứ nghe văng vẳng như Ba đang nói với tôi “Ba thật sự thương cái xứ này… Cát êm lắm, thật là dễ chịu…”

Tôi vào phòng ngủ. Tôi bỗng muốn nằm lên chiếc giường của Ba. Mai mốt căn nhà sẽ đóng cửa, rồi được trả lại cho “housing”. Tôi thấy mình như đứa trẻ thơ đi tìm chút hơi hướm của mẹ. Tôi vùi mặt vào chiếc gối của Ba. Ba cứ như còn nằm bên tôi, khi tôi là một cậu nhóc con. Ba kể chuyện đời xưa cho tôi nghe cho đến khi tôi không biết Ba đang nói gì nữa. Bỗng tôi ước muốn ôm lấy chiếc gối như là ôm lấy Ba. Khi tôi nhấc chiếc gối lên để ôm vào lòng, tôi thấy một tấm ảnh nơi chỗ của chiếc gối. Tấm ảnh Đà Lạt. Một Đà Lạt sạch sẽ, nên thơ, chan hòa nắng ban mai. Ba hẳn đã ngắm tấm ảnh Đà Lạt mỗi ngày, vui trong từng kỷ niệm và đau xót với cái ý tưởng quê hương đất đỏ đang quằn quại trong các dự án bauxite. Tôi siết chặt chiếc gối. Như là Ba với tôi cùng đang khóc.

 

Tháng Năm 2014

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

Trường Dược trước 1975 (Hình internet)

 

1

Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu.

Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời.

Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống.

Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ:
“Em uống gì không?”
“Dạ, chị cho em nước chanh.”
Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
“Trời nóng há em!”
“Dạ, nóng khác thường chị ạ!”
“… Ngày mai em hát bản gì?”
Đoan hơi lạ lùng trước câu hỏi quen thuộc của chị Thuận. Hàng tuần, vào chiều thứ Bảy, Đoan vẫn hát một bản nhạc trên sân khấu nhỏ thân ái này. Nhưng sao bây giờ nghe lạ. Hát gì ư? Đoan chớp mắt, chưa biết trả lời sao…

Hai người nam sinh viên bước vào. Chị Thuận đứng dậy. Đó là hai anh quân dược, sinh viên năm cuối. Mọi người chào nhau. Bỗng dưng cái màu đồng phục ka-ki vàng của họ làm Đoan nghe bồi hồi và liên tưởng đến một người bạn. Ngày hôm qua mới nhận được thư của Lưu. Lưu vẫn ở quê nhà Hàm Tân, làm người lính giải ngũ sớm. Một cái chân đã gửi lại trong đất sau ngày ký Hiệp định Paris 1973. Chưa có dịp gặp lại Lưu, Đoan chỉ còn biết viết thư để khích lệ tinh thần người bạn cũ.

Đoan gửi tiền nước cho chị Thuận. Chị dặn vói một câu trước khi Đoan rời Câu lạc bộ:
“Đoan nhắn Phước Hương, kỳ này nhớ hát, lâu nay trốn đâu mất.”
Câu nói làm Đoan thấy vui. Đoan “dạ” và chào hai anh quân dược, đi về labo.

Muốn tìm Phước Hương không khó, chỉ vào phòng thực tập Sinh Hóa là gặp ngay. Đoan biết như thế vì nhóm của Phước Hương hôm nay làm “T.P. Sinh Hóa”. Đoan hơi mỉm cười vì sự quan tâm đặc biệt của mình đối với Phước Hương. Nhưng không phải là bây giờ, mà từ ngày Đoan làm “lính mới tò te” bước chân vào trường. Dạo đó Phước Hương học năm thứ Hai. Ngày đầu Đoan vào Câu lạc bộ chỉ để nghe nhạc, biết Phước Hương như một ca sĩ của trường. Cái tên như tên con gái làm Đoan để ý xem người này có gì đặc biệt. Một thư sinh nho nhã đúng nghĩa, nhưng có giọng hát mạnh, trầm và buồn. Đặc biệt, Phước Hương chỉ hát một loại nhạc: nhạc tình của Đặng Công Nam, người nhạc sĩ thời danh được ưa thích nhất trong giới sinh viên. Và như một sự kết nghĩa, một gắn bó của duyên văn nghệ, Đoan và Phước Hương thường đi hát chung với nhau. Mà họ cũng rất lạ, hơi ngược đời: Đoan đàn guitar, Phước Hương hát.

Chỉ là “duyên văn nghệ”, Đoan mỉm cười.

… Và đã thấy Phước Hương ở trước cửa phòng Sinh Hóa.
“Chào Đoan.”
“Chào anh Phước Hương.”
Họ vẫn khách sáo với nhau như thế.
“Chị Thuận nhắc anh chọn bài cho đêm văn nghệ hàng tuần.”
“Vậy à?”
“Chị nói anh không hát mấy tuần rồi.”
“Tôi không khỏe Đoan à. Nhưng đã đỡ hơn rồi. Ngày mai tôi sẽ hát.”
“Anh chọn bài gì?”
“Nhạc tình số 5 của Đặng Công Nam.”
“Dạ.”
“Đoan vẫn đàn guitar và hát bè cho tôi chứ?”
“Vâng, như cũ, anh Phước Hương.”

Có người bạn gọi, Phước Hương cáo lỗi Đoan và vào phòng. Đoan tiếp tục đi, còn nửa tiếng nữa mới đến giờ mình vào làm trong labo Ký Sinh Trùng. Đoan muốn dạo một chút trong sân trường. Giờ này không đông lắm, chỉ có một số sinh viên vội vã đi vào Giảng Đường Một. Các khu thực tập đều đóng kín. Những con người cần mẫn nhốt mình trong đó. Đoan cũng thế, ngày ngày đến trường cũng nhốt mình trong các labo hay các giảng đường, học hành siêng năng. Có một điều hơi khác một chút, là Đoan cùng một nhóm bạn làm việc tự nguyện, thường họp nhau để bàn về những chuyến đi công tác xã hội. Họ không ồn ào, không có danh xưng, nhưng trong lặng lẽ đã làm được khá nhiều việc.

Một chiếc xe hơi chạy vào trường. Trên xe có Mỹ. Mỹ ra dấu chào Đoan. Đoan chào lại. Từ ngày đám cưới, Mỹ không còn chạy xe gắn máy nữa, mà đi làm bằng xe hơi, do chồng lái. Ở trường này, việc thầy cô hoặc một vài sinh viên đi xe hơi là bình thường. Đó cũng không phải là lý do khiến những người bạn xa lạ với nhau. Nhưng với Mỹ, Mỹ đã tỏ ra xa lạ trong những ngày gần đây. Thái độ của Mỹ hơi thiếu tự nhiên. Trừ những giờ phải thực tập chung với Đoan và Xuân, Mỹ không hăng hái gặp gỡ các bạn. Đoan lấy làm tiếc, vì Mỹ với Đoan rất hợp ý trên nhiều mặt. Xuân thì hời hợt hơn, mặc dù có tiếng là người mau nước mắt. Trong cái “bộ ba” Bắc Trung Nam này, Đoan và Mỹ thường tâm sự với nhau hơn là với Xuân. Có những buổi ngồi ở hàng ghế sau cùng trong giảng đường vắng, Đoan lặng người khi nghe những câu chuyện Mỹ kể về những người cô người chú bí ẩn của Mỹ. Đoan chỉ biết lắng nghe và không có ý kiến. Nó vượt khỏi sự tưởng tượng của Đoan. Ở lứa tuổi này, Đoan cảm thấy mình chưa qua khỏi biên giới của tuổi thơ, dù có cái vỏ sinh viên đạo mạo, và làm những công tác xã hội với cái tâm của mình. Đoan có gặp những vết thương chiến tranh trên những người thương binh về từ chiến trận xa. Đoan có đến với những bà con chạy loạn. Đoan có đến thăm những tù binh được trao trả sau hiệp định Paris 1973. Đoan có chăm sóc, tặng quà những em bé mồ côi sống trong những cô nhi viện. Nhưng Đoan không biết gì đến những lý luận, những chủ nghĩa… Đoan hoàn toàn không biết. Nhưng Mỹ biết. Những cô, chú của Mỹ dạy cho Mỹ nhiều điều.

Mỹ mới lập gia đình hồi đầu năm nay. Chồng Mỹ là con của một ông chủ lớn, có hãng xưởng ở quận Tư. Mỹ không còn đi công tác xã hội chung với Đoan. Có khi, Đoan băn khoăn, khi đặt hai hình ảnh của Mỹ cạnh nhau – một khi nói về cô chú của mình, và một khi làm một bà chủ trẻ sang trọng. Đoan không hiểu được.

Mỹ đang đi về phía Đoan, sau khi chào tạm biệt chồng. Chiếc xe chạy trở ngược ra cổng. Đoan mỉm cười với Mỹ, nói:
“Mình vào labo đi, sắp tới giờ rồi!”
“Ừ.”
Thầy Tính đã có mặt trước. Đây là một người thầy tận tụy. Lúc nào Thầy cũng đến sớm hơn mọi người. Sau giờ các sinh viên thực tập, Thầy là người ở lại cuối cùng, sau cả các nhân viên. Thầy nhướng mắt sau đôi kính cận dày cộp, nói ngay khi thấy Mỹ và Đoan:
“Chào hai chị. Vào sửa soạn “monter lame” đi!”
“Dạ.”
Hai đứa cùng làm “chức” monitrice, phụ trong phòng thực tập Ký Sinh Trùng của Thầy Tính. Thầy chọn hai bạn này cũng do sự khéo tay và cần mẫn của họ. “Monter lame” là đặt sẵn những tiêu bản – tức là những mẫu vật – lên kính hiển vi, điều chỉnh kính cho thấy rõ để sinh viên đến xem trong giờ học. Tiêu bản trong phòng này là những mẫu ký sinh trùng sốt rét, các mô động vật, các tế bào máu, các mẫu giun sán, muỗi mòng… Ngoài ra hai bạn còn có thêm một nhiệm vụ là vẽ hình cho Thầy Tính làm các poster dạy học. Nhìn tấm gương của Thầy, hai bạn cũng muốn mình trở thành những người thầy tận tụy.

 

2

Phước Hương ngân dài chữ cuối của bài hát. Đoan đi thêm một đoạn nhạc ngắn. Tình khúc chấm dứt. Các khán giả sinh viên vỗ tay khen ngợi. Không khí ấm cúng quen thuộc của Câu lạc bộ trở lại thân mật sau một buổi chiều nóng bức.

Đoan cùng Phước Hương bước xuống khỏi sân khấu – là một sàn gỗ lớn, bên trên trang trí thanh nhã. Họ đến ngồi chung bàn với các bạn quen. Đoan cất cây đàn guitar vào bao. Cây đàn cũ, nhưng tiếng rất tốt. Nó đi theo Đoan vào trường này, và “lưu diễn” ở một số trường bạn. Chưa hết, còn “lang thang” đến quân y viện nữa. Nghĩ đến đó, tự nhiên Đoan ôm chặt cây đàn vào lòng. Một cảm giác lạ lùng chợt đến.

Xuân, đến lượt mình, bước lên sân khấu. Giọng hát thoải mái, trong trẻo, Xuân diễn tả trọn vẹn một bản nhạc tiền chiến. Rồi tiếp nối, một số giọng hát của sinh viên các trường bạn cũng góp phần. Và như thế, những bản tình ca làm nên một buổi văn nghệ dễ thương.

Ngôi trường này, hay chính xác hơn là cái Câu lạc bộ này, đã là nơi hẹn của những người yêu văn nghệ trong giới sinh viên. Đôi khi, nơi đây có những buổi nhạc chủ đề. Đặng Công Nam, người nhạc sĩ được mến mộ, thỉnh thoảng cũng đến. Đoan nhớ có lần ông trình bày nhạc của ông, với một cây guitar, và ông tự diễn tả nỗi lòng. Ông hát cho quê hương. Ông hát về thân phận con người trong chiến tranh. Bao nhiêu giọt nước mắt rơi theo tiếng hát của ông. Nhiều chị sinh viên thổn thức đến xin ông chữ ký. Chị của Đoan, bên trường Văn Khoa sang dự, xin ông ký tên lên mảnh khăn tay vải đẫm ướt nước mắt của chị. Ông ký. Và cái khăn đó chị giữ làm kỷ niệm, không bao giờ chị giặt. Đoan thì không. Đoan ngồi ở đàng xa, nhìn về phía ông. Mặc dù Đoan vẫn thường chọn nhạc của ông để hát cùng Phước Hương, Đoan vẫn tự cho mình làm người xa lạ. Như vậy tốt hơn. Một phần nào đó, ông cũng là thần tượng ca nhạc của Đoan.

Đoan ra khỏi Câu lạc bộ. Đêm, trời đứng gió. Bỗng nhiên một luồng khí nóng ngột ngạt ùa đến. Có cái gì trong mắt Đoan cay xé. Thời tiết lạ quá! Chắc mình sắp bệnh?

 

3

Khánh Dương, ngày 22 tháng 3
Đoan thân mến,
Anh đang ở Khánh Dương. Nghĩ rằng muốn viết cho Đoan. Pháo dội rát bên phía rừng, nghe gần lắm Đoan ạ! Đơn vị của anh đã được lệnh “di tản chiến thuật”. Không biết cô bé có nghe từ ngữ này bao giờ chưa nhỉ? Chỉ đêm nay hay ngày mai là tụi anh sẽ lên đường.
Anh nghĩ anh đang về gần Sài Gòn hơn. Anh đang về gần cô bé.

Ngày 23 tháng 3
Đơn vị bạn cho biết có chiến xa của địch. Các đơn vị tiền sát bắt đầu chạm địch với những trận cận chiến. Cận chiến đó cô bé! Nghe sợ quá phải không? Đoan đừng lo lắng nhé! Anh chỉ đang muốn nghĩ về cô bé thôi. Cái sống và cái chết gần nhau quá!

Ngày 28 tháng 3
Anh đang trên Quốc lộ 21. Một đoàn xe tiếp tế bị phục kích đánh tan.

Ngày 29 tháng 3
Phía địch đông lắm, gấp 10 lần. Mình không được bổ sung, không được tiếp tế, không chiến xa, không pháo binh hạng nặng yểm trợ.

… Có chuyến bay tiếp tế trở về Sài Gòn, anh gửi thư đây!..

Một lá thư như những lời tường thuật ngắt quãng như thế, cũng đủ cho Đoan hình dung được tình hình cấp bách nơi Thắng ở. Đầu tháng Tư, thư đến. Còn bây giờ Thắng ra sao, Đoan không biết được. Tự nhiên lòng bồn chồn. Một chút nhung nhớ mênh mang trong trí. Đoan gấp lá thư lại, bồi hồi nhìn sách vở, rồi cũng gấp lại luôn. Khánh Dương, địa danh nghe hay nhưng lạ. Đoan nhìn lên tấm bản đồ lớn treo trên tường. Nó đây rồi!…

 

4

Vẫn là hành lang trước dãy phòng thực tập Đoan hay ra đứng khi rảnh rỗi. Từ đây có thể nhìn thấy Câu lạc bộ, nơi có vẻ đông đúc nhất của trường – đông đúc không ở số lượng, mà ở cảnh người ra kẻ vào, cười cười nói nói. Từ đây mọi người có thể phóng tia mắt nhìn thấy vườn dược thảo với muôn sắc hoa. Cũng từ đây, tầm mắt vượt khỏi cổng rào, thấy được cảnh đường sá bên ngoài.

Chiều đã xuống. Bên kia đường là Đại học Văn Khoa. Những dãy lớp khang trang đứng lặng lẽ. Đoan yêu màu nắng chiều trong khung cảnh bình yên này. Con đường Cường Để nhiều cây to bóng mát, rất sinh động vào buổi sáng, buổi trưa, nhưng đến chiều sẽ dịu dàng trong màu nắng. Xe cộ cũng thưa dần.

Lác đác vài sinh viên quân dược chạy xe ra khỏi trường. Màu áo ka-ki vàng lại khiến Đoan liên tưởng. Hôm qua nhận được thư của Lưu. Lưu cho biết trong tháng Tư Lưu sẽ tìm dịp về thăm lại Sài Gòn. Lưu sẽ vào thăm quân y viện, nơi con đường rợp bóng cây còng, cũng là nơi Lưu đã gặp Đoan. Đường cây còng, vâng, Sài Gòn có những con đường “hay hay” như thế. Người ta nói nhiều đến những con đường lá me, những con đường hoa phượng. Nhưng Đoan, và các bạn Đoan, thân thiết với những con đường cây còng. Loại cây cao như cây me, cây phượng, có tán rộng hình cây dù, quả dài như trái điệp, hoa màu hồng hay tím nhạt. Đoan còn gọi đó là “cây mưa”. Thật thế, sau những cơn mưa đường cây còng trông thật quyến rũ. Những chiếc lá đọng nước mưa như trĩu xuống. Hoa khép nép buồn buồn.

Khi ý tưởng dẫn đi xa, Đoan tưởng tượng ra hình ảnh Thắng ở một nơi Đoan chưa từng đến, Khánh Dương. Sau những lần “được” làm thương binh, nằm trong bệnh viện nơi đường cây còng, Thắng lại ra mặt trận. Cái nóng ngột ngạt của chiều Sài Gòn khiến Đoan tưởng tượng cái nóng của Khánh Dương, thật khác. Là cái nóng của lửa đạn, của chiến trường sôi sục.

Đôi mắt bỗng nghe cay. Đoan xoay người lại, tựa lưng vào lan can. Và thấy Phước Hương đang đi đến.

Vẫn với gương mặt có vẻ ơ thờ với những thứ xung quanh, Phước Hương lên tiếng trước:
“Chào Đoan.”
“Chào anh Phước Hương.” Đoan vẫn thích gọi cái tên hai chữ như vậy.
Và chưa thấy Phước Hương nói gì thêm, Đoan hỏi tiếp:
“Anh có giờ thực tập ạ?” – như tự nghĩ rằng Phước Hương tình cờ gặp mình trên đường đi.
“Không.” Phước Hương lắc đầu.
“Dạ.”
Đoan hơi buồn cười chính mình.
“Tôi tìm Đoan.”
Đoan ngạc nhiên, chợt nhớ ra hôm nay là thứ Sáu. Ngày mai sẽ là ngày có văn nghệ ở Câu lạc bộ như lệ thường. Bỗng dưng Đoan có một cảm giác là lạ, như là uể oải. Không hiểu sao sự hăng hái say mê âm nhạc lúc này biến đâu mất. Nghĩ đến mình lại lên sân khấu nhỏ, đàn hát, cùng với Phước Hương. Rồi thì Phước Hương sẽ vẫn chọn hát những bản nhạc tình mơ mộng, lãng đãng. Mà Phước Hương thì chỉ có thế, vì giọng hát của anh chỉ hợp với kiểu cách ấy thôi. Không kềm giữ được, Đoan thở dài. Đoan muốn nói một điều gì đó với Phước Hương. Đoan tìm lời.


Nhưng Phước Hương đã nói trước:
“Tôi tìm Đoan để chào tạm biệt.”
Đoan giật mình, hỏi:
“Anh đi đâu ạ?”
Phước Hương mỉm cười thật nhẹ:
“Tôi đi đăng lính Đoan ạ.”

Đoan tưởng mình nghe lầm. Đoan nhìn chăm chăm người con trai trước mặt. Một người “nho nhã”, nói theo kiểu xưa, mà thật thế, có lẽ chỉ phù hợp với không khí trong giảng đường, làm những công việc nhẹ nhàng trong phòng thí nghiệm, và cất tiếng hát trầm buồn trên sân khấu sinh viên. Phước Hương đăng lính. Đoan định thần. Một lời hỏi han thắc mắc trong lúc này chắc là không phù hợp.

Phước Hương cười nhẹ, vẫn là nụ cười nhẹ nhàng cố hữu, nói:
“Chắc không cần giải thích gì hở Đoan? Ai cũng hiểu.”
“Dạ.”
“Tôi hy vọng có ngày trở lại trường này, học tiếp. Có thể trở thành đàn em của Đoan đấy!”
“Dạ.”
“Nhưng tôi không quên sân khấu nhỏ của mình, ở Câu lạc bộ. Tôi sẽ rất nhớ những chiều thứ Bảy được cùng Đoan hát trên sân khấu đó. Tôi sẽ không quên nhiệm vụ lúc nào cũng mang một cái ghế lên sân khấu cho Đoan ngồi đàn.”
Bỗng nhiên Đoan hỏi như gấp gáp:
“Thế ngày mai, anh Phước Hương cũng sẽ hát chứ?”
“Không, sáng sớm mai tôi đi. Không có dịp hát cho chiều thứ Bảy. Đoan sẽ nói lời tạm biệt các bạn văn nghệ giùm tôi nhé!”

Nắng tắt. Đường sá ngoài kia bớt hẳn xe cộ. Trong này, vườn dược thảo bắt đầu khoác chiếc áo bằng lá cây màu xanh thẫm. Đôi bạn từ giã nhau. Đoan nghe một nỗi gì như mất mát đang ùa đến.

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư Quán Bản Thảo số 66 – tháng 10-2015

 

 

 

Tưởng nhớ nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Đức Quang

(1944- 27/3/2011)

 

alt

 

Tôi không nhớ rõ ngày tháng nào nhạc du ca đã đến với tôi, hay đúng hơn, là tôi đã đến với nhạc du ca. Có lẽ là từ lâu lắm, khi tôi cầm trên tay những bản nhạc được in bằng lối in ronéo phát cho một nhóm sinh hoạt cộng đồng, chỉ cần nhìn note nhạc hoặc có một anh chị lớn cất giọng hướng dẫn, thì cả nhóm hát theo được ngay. Nhạc du ca dễ hát, dễ nhớ. Nhưng không phải vì nó đơn giản. Mà vì nó nói giùm trái tim đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ.

Tôi như đã thuộc lòng lời bài hát “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang:

Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng của thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loang xoang
Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người
Nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi
Nụ cười xa vời nụ cười của lòng hờn sôi
Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian

Ôi! Cả một quá khứ bi hùng của cha ông, làm sao không gợi nên tình nước? Mà cha ông ta đã bất khuất can trường như vậy, làm sao con cháu đời này lại không noi theo?

Còn Việt Nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng

Nhạc du ca đến với giới trẻ, với mọi tầng lớp người dân, đến trong sân trường, trên sân khấu cộng đồng, lan tỏa trên vùng đất của những trại tạm cư, khi chiến tranh về đến ranh giới giữa thôn quê và thành phố.  Những người tuổi trẻ, khi nhỏ những giọt mồ hôi trong lúc phát gạo, muối, thuốc men, khi đi chích ngừa cho đồng bào tị nạn chen chúc trong trại tạm cư, sẽ thấy nhạc du ca chan chứa niềm cảm động của mình:

Trời sáng tươi đã lên rồi
Trời sáng luôn trong lòng tôi
Cặp mắt khô sau đêm dài
Tìm quanh đây một ngày vui

(Dưới Ánh Mặt Trời – Nguyễn Đức Quang)

Mà cũng không phải chỉ có làm lụng, thức khuya đến khô mắt khô da đâu! Những giây phút thơ mộng và hứa hẹn cùng người yêu cũng thật lãng mạn. Tôi nhớ như in nụ cười dí dỏm và thân người lắc lư trong khi tay gảy đàn và miệng hát rộn rã của những anh sinh viên:

Anh sẽ về, em ơi anh sẽ về
Về nơi ngôi nhà vách đất với hàng hoa thơm
Nơi con đê già, nơi cây cầu tre
Nơi con đường đất dấu chân trâu bò
Đưa em vào gió, khẽ trao cành hoa
Ra sau vườn nhỏ trồng lại cho em dây Hoàng Lan hương đậm thêm

(Anh Sẽ Về- nhạc Nguyễn Hữu Nghĩa, thơ Khê Kinh Kha)

Thuở bé tôi cứ hỏi khi các anh sinh viên đi về thôn quê có dám đi chân trần để theo dấu chân trâu bò hay không… Tôi thường bị “kí” đầu vì những câu hỏi như vậy. Nhưng tôi thật thích những lời lẽ đơn giản mà nói lên đủ tình ý đậm đà. Chỉ với hoa, với gió, với một dây Hoàng Lan, mà ước mơ nói ra có thể làm người ta bật khóc.

Và thật tình là các anh, các chị, đã thật dễ thương khi cùng ca ngợi cảnh bình yên của một quê nhà khói lửa mà chỉ cần hướng mắt nhìn về bên kia sông là đã thấy:

Này người yêu người yêu anh ơi
Bên kia sông là ánh mặt trời
Này người yêu người yêu anh hỡi
Bên kia đồi cỏ non đan lối
Này người yêu anh ơi
Cho anh nồng ấm cuộc đời
Như hoa có ánh mặt trời
Ôi núi mừng vì mây đến rồi
Này người yêu anh hỡi
Yêu nhau mình đưa nhau tới
Bước nhẹ và nói bên môi
Nói cho vừa mình anh nghe thôi

(Bên Kia Sông – Nguyễn Đức Quang)

Tôi vẫn thích lời hát của bài “Bên kia sông” lần đầu tôi được nghe. “Nói bên môi”, nghe thật cảm động. Sau này tôi được thấy những bản ghi lại “nói bên tai” rồi “nói êm xuôi”. Chữ nào đúng đây? Hay là nhạc sĩ đã sửa lại? Hay có lẽ vì tôi vốn tính chấp nhất, cái chấp nhất của người học trò trung thành với những gì mình đã biết đầu tiên?

Tôi vẫn nhớ những đêm văn nghệ trong sân trường đại học, anh chị em sinh viên hay hát những bản nhạc này:

Ánh sáng đã lan tới
Sức sống đã vun xới
trên bao nỗi vui mừng
Quê hương hết tăm tối
Quê hương sẽ đổi mới
Quê hương đã yên vui

(Đến Với Quê Hương Tôi- Bùi Công Thuấn)

Đường Việt Nam ôi vô cùng vô tận
Đường ngang tàng ngoài biển Nam giữa Trường Sơn
Đường ngày qua đầy vết kinh hoàng
Mỗi xóm làng một dở dang

(Đường Việt Nam – Nguyễn Đức Quang)

alt

Có đi, có làm việc, có vui buồn trong quãng đời làm công tác xã hội, có thấy những giọt mồ hôi và nước mắt của người dân mình, mới thấm thía nỗi ước ao hy vọng vươn lên:

Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền
Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến
Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt
Hy vọng đã vươn dậy như làn tên đang rực lên trong màn đêm

(Hy Vọng Đã Vươn Lên- Nguyễn Đức Quang)

Và như nói với nhau rất thật lòng, rất thẳng thắn, bằng những ngôn từ rất giản dị, như bạn bè nói với nhau:

Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi
Phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới
Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau nghi ngờ nhau
khích bác nhau cho cay cho sâu cho thật đau
 
… Thế giới ngày nay không còn ma quái
Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi
Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi

(Không Phải Là Lúc – Nguyễn Đức Quang)

Có những lúc hát mà rơi nước mắt, vì thấy sao quê hương mình, người dân của mình lắm nỗi gian nan:

Nước non đã bao phen đớn đau u sầu
Ta như dân phiêu lưu vẫn tin ngày đến nơi nào
Nghe trong lời cỏ cây khuyên đừng sợ gì chiêm bao
Qua ngày u ám sẽ sáng tươi cơn nắng đầu
 
…Khi đêm trôi qua ngày ngẩn ngơ như chưa từng hay
Chơ vơ bên lối ruộng cổng trường xơ xác điêu tàn
Em thơ ơi vô tội, em đi đâu đi hoài
Tuổi hồng chưa thấy bóng mây

(Một Giấc Chiêm Bao – Nguyễn Đức Quang)

Nhưng phải nhanh chóng thoát khỏi giấc chiêm bao, để truyền cho nhau niềm lạc quan và khơi lại hào khí dân tộc:

Nhìn lên trên cao mây lớp chập chùng
Nhìn ra khơi xa sóng bủa mịt mùng
Nhìn lên cây cao lũ cò trắng đậu
Nhìn ra anh em mắt cười nhìn nhau
 
Nhìn lên cao nguyên e ấp giọng khèn
Nhìn con sông sông xanh cô lái dịu hiền
Nhìn anh thương binh mái đầu nhuốm bạc
Nhìn ra quanh ta thấy đời hồi sinh
 
Đó niềm tin hòa bình
Đến cùng dân Việt mình
Đó là câu chuyện tình
Đã sáng dậy bình minh

(Nhìn Lên Trên Cao- Ngô Mạnh Thu)

Ta mang nặng trên vai xiềng xích
Bao thế hệ chất cao buồn đau
Nước phân ly lòng đau tựa cắt
Tiến tới người Việt ơi tháo gông xiềng tối tăm
 
Dòng từng dòng cuồng lũ ta dựng vẻ vang
Đoàn từng đoàn vượt tới ta xây lại kiếp người
Ngày từng ngày lầm than chìm lắng theo hận thù
Ngày quật cường Việt Nam ngày chói sáng khung trời

(Những Bước Chân Đi Tới – Bùi Công Thuấn)

Trên bản nhạc “Người yêu tôi bệnh”, có dòng chữ nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang nhắn nhủ: “Đi làm công tác xã hội là đã chọn một người yêu: Nguyễn Thị Quê Hương”.

Nắng nóng cháy da đã về rồi
Trên thân người đẹp tôi
Bão tố buốt xương cũng về rồi
Cho thêm tàn phai
 
… Giờ còn có nhau giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau sớt chia không được đâu!

(Người Yêu Tôi Bệnh – Nguyễn Đức Quang)

Và quê hương Việt Nam của tôi đang bệnh đó! Cuộc đời ơi! Du ca ơi!

Còn một mảnh đất quê hương thứ hai nữa: mảnh đất hứa của những người Việt Nam tha hương. Khi các nhạc sĩ du ca đem dòng nhạc một thời sôi nổi ở quê nhà đến các vùng đất mới, họ cũng đã chan hòa tâm tình của mình khắp nơi. Và phong trào du ca đã sống lại trong lòng các bạn trẻ. Tiếng hát gắn liền với  những sinh hoạt cộng đồng, nói lên ước vọng của thanh niên, dù những người mang du ca đến vùng đất mới tóc cũng chẳng còn xanh.

“Xin chọn nơi này làm quê hương”, đúng như vậy!

Này bạn, mang găng trắng
Bồng súng gác trên đồi Arlington
Chiều nay trời sẽ mưa hay sương gió lạnh lùng
Có còn vững đôi chân?
 
Bởi nơi đất nước này:
Bắc Nam cùng mạch sống!
Thắng thua đều anh hùng
Bốn mùa hoa nở rộ, dưới mộ đài hùng tráng
Chung dòng “Tổ Quốc Ghi Công”
 
Triệu linh hồn oan khuất
Chiều nay xa quê nhà
Còn chỗ không, người lính gác?
Chúng tôi về đây nằm
Trên đồi Arlington!

(Trên Đồi Arlington – Nguyễn Đức Quang)

Nhiều người đã nói rất nhiều về phong trào du ca ngày xưa, thập niên 1960, 1970, và du ca hải ngoại bây giờ. Tất cả là một mối, một lòng. Riêng tôi luôn yêu mến dòng nhạc này như yêu một người bạn thiết. Vì nhạc du ca đã đi vào nỗi niềm của tôi, nói giùm trái tim tôi.

Giờ đây, tôi muốn nói lên lời cám ơn một dòng nhạc tuyệt diệu của Việt Nam. Tôi tri ân những người nhạc sĩ, những nhà thơ, những tiếng hát đã giúp cho tuổi học trò của tôi có nhiều kỷ niệm thật đẹp. Cám ơn những người sáng lập, cám ơn những người đã làm khởi sắc phong trào du ca.  Cám ơn những người đã khuất và những người đang tiếp nối. Và xin góp một lời cầu nguyện cho nhạc sĩ  Nguyễn Đức Quang mau chóng lành bệnh để lại nâng cây đàn ghi-ta, hát những khúc du ca muôn thuở. Chúng ta vẫn cùng hát. (*)


Cuối tháng 2, 2011


Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

Số ngày 11/3/2011

(*)Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang từ trần ngày 27/3/2011 tại California, Hoa Kỳ

 

 

 

 

 

Hình: Tem VNCH (nguồn: Blog Phay Van)

 

“Trời trở lạnh…” Danh lẩm bẩm như vậy rồi bật cười. Ba mươi độ C, vậy mà gọi là lạnh ư? Chắc mình sắp thành cụ già rồi! Anh nhớ bà ngoại anh, cứ vào tháng cuối năm là bà “quàng quấn” rất kỹ. Bà nói: “Trời trở lạnh…” Còn anh, hiện giờ vẫn chưa thấy mình cần phải mặc thêm gì nhiều. Cuối năm, trời có hơi mát hơn một chút, thấy thoải mái, chứ không thấy lạnh.

A! Nhưng có một điều Danh để ý. Đó là cảm giác nhức trong xương. Nhức xương, nghĩa đen hoàn toàn. Thuở nhỏ anh nghe cha mẹ nói người già yếu hay nhức xương lúc trở trời. Anh có là người già yếu không? Anh đứng lên, nhìn mình trong gương. Mình… vẫn trông như một thanh niên đấy chứ! Rồi anh thở dài, bật cười: “vẫn” có nghĩa là “không còn” nếu suy ra.

Lắm khi anh có những ý nghĩ vòng vo như vậy. Cũng vui, anh tự an ủi. Cuộc đời mình còn có gì đáng nói? Có chăng là những phút giây hoài niệm về một thuở xa xăm. Có xa lắm không? Bốn mươi mấy năm thôi!

Anh vói lấy đôi nạng, bước ra ngoài. Ngay trước cổng, anh thấy trên cành của cây mai đã có những nụ hoa bé tí xíu. Lòng anh chợt rộn ràng chút cảm giác của tuổi mới lớn. Ôi, điều gì làm mình cảm động đến thế này? Có phải đất trời vẫn cứ bước đi theo nhịp của thời gian? Vậy thì không có cớ gì con người dừng lại.

Ghé thăm anh bạn cái đã. Giờ này lớp học của Toàn đã xong rồi. Đúng vậy, Toàn đang sắp xếp mấy cuốn sách trên bàn cho ngay ngắn. Nghe tiếng động, bạn nhìn ra, nói ngay:

“Là Danh đó hở?”

“Ừ.”

“Tôi mới xong. Vào đây uống chút cà phê đi ông.”

Danh đùa:

“Giờ này thì uống rượu chứ uống cà phê gì?”

“Rượu thì cũng có.”

Danh ngồi xuống bên bạn, cười:

“Nói vui thôi, tôi uống chút trà có sẵn đây được rồi. Ông biết đó, tôi có thích rượu đâu! Nếu có, thì tôi chỉ muốn có…”

Toàn ngắt lời:

“Rượu Trung Sơn phải không?”

“Phải.”

“Hai thằng mình giống nhau.”

Toàn đứng lên pha hai tách trà, bằng một tay. Rồi Toàn khề khà ngâm thơ:

“Có rượu Trung Sơn cho lũ tớ,

Tỉnh ra hỏi đã thái bình chưa.”(*)

Danh cười vang:

“Nghe cứ như ông lão.”

“Không ông lão sao được? Trên sáu mươi rồi ông ạ!”

Cả hai im lặng. Danh mở một cuốn sách trên bàn ra đọc. Còn Toàn vặn cái máy CD để nghe một bài nhạc cũ. Họ vẫn như thế, nói ít. Có khi họ ghé nhà nhau, cũng chỉ để ngồi yên lặng, mỗi người một việc. Nhưng Danh cảm thấy mình rất may mắn còn có người bạn thân như thế này, cùng lớn lên ở một làng quê nghèo, cùng lên Sài Gòn đi học, cùng đi lính…

Toàn bây giờ có một lớp kèm trẻ. Học phí có khi là tiền, cũng có thể là bánh, xôi, gà, vịt… Phụ huynh có gì gửi nấy, thầy giáo hoan hỉ nhận. Toàn đã sống như một thầy đồ xưa. Còn Danh ngày ngày phụ vợ mua bán lặt vặt kiếm tiền để sống, “giật gấu vá vai” qua ngày.

Toàn bỗng cất tiếng:

“Danh, ông với tôi đi đến nơi này nhé, tôi muốn biết…”

“Biết gì?”

Toàn cho Danh xem lá thư của một người bà con, gửi qua bưu điện. Nghe nói thời buổi này người ta dùng internet, email gì đó, tiện lợi lắm, nhưng họ còn dùng thư kiểu cũ. Danh lướt nhanh bức thư. Toàn hỏi:

“Ông đi chứ?”

“Đi.”

“Quyết định nhanh thế?”

“Phải. Vì cái địa chỉ này, Nhà Thờ này. Tôi muốn trở lại nơi đó.”

 

***

Trở lại, vâng, Danh đã trở lại! Chốn thân quen này chìm sâu trong tâm tư lâu lắm rồi, tưởng đã quên mất. Nhưng nay nhìn thấy lại như được trở về cái thời học sinh của mình, không phải là xa xăm, mà gần gũi lắm, hiển hiện trước mắt. Danh thấy mình là cậu học sinh áo trắng quần xanh, tay cắp cặp vở mới tinh, đi thơ thẩn trong sân nhà thờ sau những buổi học chiều. Anh thường đứng ở cửa bên hông, nghe những lời giảng của vị linh mục già. Rồi anh đi vòng ra phía hang đá có tượng Đức Mẹ Maria đứng chắp tay như cùng cầu nguyện với con người. Quanh chân tượng, người ta đã đặt những bó hoa, những tấm biển nhỏ với các dòng chữ tạ ơn Mẹ.

Cũng nơi đây, có khi anh dõi mắt nhìn theo một tà áo trắng. Cô bạn chắc cũng là học sinh như mình, tan trường vào đây cầu nguyện. Không hẹn mà hai người thường đến trước hang đá cùng một lúc. Có khi họ như không để ý đến nhau, hòa lẫn vào đám đông. Có khi, trong vài phút giây tĩnh lặng, họ thoáng nhìn nhau, như nhận ra nhau quen thuộc. Anh hơi mỉm cười, khẽ gật đầu chào. Cô bạn cũng hơi mỉm cười, gật đầu chào lại. Vậy thôi. Ngày tháng trôi qua. Rồi đến ngày anh đi lính. Họ mất nhau.

Anh thở dài. Mình đã gặp biết bao nhiêu người trong đời, và cũng đã mất biết bao nhiêu người. Nhưng tự dưng đứng trong khung cảnh này anh thấy rất nhớ cô bạn nhỏ ấy.

Toàn xuất hiện phía con đường dẫn vào dãy nhà lớn, gọi:

“Danh, vào đây mau!”

Danh đi theo Toàn. Trong khuôn viên Nhà Thờ đã có khá đông người. Danh như khựng lại trước cảnh ấy. Bỗng chốc Danh tưởng như mình đang ở trong một bệnh viện, mà những người trước mặt mình đây là những bệnh nhân. Chính xác hơn, là trong một quân y viện, và họ là những thương bệnh binh. Ý tưởng chạy vùn vụt về một thời máu lửa. Những tiếng hò hét khi ra trận… Những tiếng đạn bom vang rền nhức tai… Một thời máu xương… Một thời bạn bè gục ngã… Và Danh, Danh chạy lên một ngọn đồi, Danh vác một anh bạn bị thương trên vai mình, chạy băng băng về lều cứu thương. Đạn réo bên tai. Tiếng người bạn rên siết đớn đau nghe quặn ruột. Ráng lên! Ráng lên! Gần tới nơi rồi. Mày phải sống! Danh nghe một cái gì chém thật ngọt ở chân mình. Anh quỵ xuống. Chuyện gì vậy? Chúa, Phật ơi, sao đau thế này? Bây giờ mới biết cái đau là thế nào. Mắt tối lại. Và hết, không còn cảm giác gì nữa…

Danh đứng lặng trong vài giây mà nghe lâu như mấy mươi năm. Đúng là mấy mươi năm, cảm giác đã trở lại. Đau lắm! Anh nhìn xuống chân mình, nơi thiếu mất lâu nay.

Chưa tìm thấy một người nào quen, trừ Toàn. Nhưng bỗng Danh đi nhanh đến chào từng người. Danh muốn ôm hết tất cả họ trong vòng tay của mình. Anh em tôi đây mà! Nếu có một ai đó mình đã từng quen, chắc cũng khó nhận ra ngay. Bởi ai cũng khắc khổ, yếu mòn, phong sương. Mấy mươi năm dãi dầu, cực khổ, đâu còn nét thanh tú, đâu còn dáng nhanh nhẹn, hào hùng.

Và… cũng đã có người quen. Người nhận ra trước không phải là Danh, mà là một người mù cả hai mắt. Nghe câu chào của Danh, người ấy nhướng đôi mắt, chỉ là hai cái hố sâu hoắm, hơi nghiêng đầu, có lẽ vì một bên tai đã bị điếc, rồi thốt lên:

“Có phải… là Danh không?”

Danh hỏi lại:

“Phải… Còn anh, xin lỗi, anh là… ôi, là Nghi phải không?”

“Phải, Nghi đây!”

“Tôi cũng nhận ra nhờ giọng nói.”

“Đúng rồi! Chỉ nhờ giọng nói thôi. Danh nhìn tôi đi, không còn gì của ngày xưa phải không?”

Đôi mắt của Nghi càng nhướng thêm như cố gắng nhìn người bạn cũ. Danh ôm chặt lấy bạn. Cái hình hài xa lạ ngồi trên chiếc xe lăn với đôi chân không còn, với đôi mắt không còn, là bạn mình, là người bạn cùng lăn lóc trên chiến trường với mình. Hai người không gặp lại nhau từ khi Nghi chuyển về đơn vị khác. Và cũng đã bặt tin nhau sau cái ngày định mệnh tháng Tư. Vâng, sau ngày đó, nhiều người đã không còn thấy lại nhau, do thiếu liên lạc, do cuộc sống khó khăn, ai cũng phải trần thân kiếm sống. Nhiều lý do lắm. Họ tự trách, nhưng cũng không làm được gì hơn.

Toàn cũng đến bên Nghi, ôm lấy bạn. Cũng nhờ giọng nói, Nghi nhận ra Toàn. Và, bằng một giọng khôi hài, Nghi hỏi:

“Sao ông ôm tôi có một tay?”

Toàn trả lời:

“Thì có một tay.”

“Ông đưa cho tôi hết cả hai tay coi nào!”

“Có đâu mà đưa?”

“Ha ha, hiểu, hiểu.”

Nghi quay qua Danh:

“Ông này thì còn đủ hai tay, nhưng đưa cho tôi mượn bớt cây nạng.”

Danh đấm nhẹ vào lưng Nghi, cười vang:

“Ha ha, không thoát khỏi đôi mắt thần của ông.”

Ba người bạn vui quá, không nén được những tiếng cười hân hoan.

Mọi người được mời vào một khoảng sân rộng, nơi đã kê sẵn những chiếc bàn vuông và ghế nhựa. Cùng với họ, những người khác cũng lần lượt đến ngồi. Có những người đã đến bằng xe lăn như Nghi thì ngồi luôn ở xe lăn. Kìa, một người mất cả hai chân đã dùng hai chiếc ghế đẩu thấp cột vào chân để làm “chân giả” khi di chuyển. Kìa, một người mù đang đi nương theo vai của đứa con trai, mà trên hai vai của ông thì vắt vẻo hai xâu bàn chải. Hôm nay hẳn là ông đã bỏ một buổi đi bán hàng rong để về tham dự buổi tiệc này. Và kia, một người mang theo cây đàn ghi-ta, đang ngồi so dây để chuẩn bị một bài hát. Đây có phải là một trong hàng ngàn người “nghệ sĩ đường phố”, “nghệ sĩ bến xe”, “nghệ sĩ bến phà” ngày ngày đàn hát những bài nhạc quê hương để kiếm sống, mà cũng để hoài niệm về một quê hương đã mất? Họ đang đứng trên mảnh đất quê hương của họ, nhưng đã trở thành kẻ xa lạ khi xã hội không dành cho họ một chút tình thân.

Những câu hỏi han, những lời mừng rỡ khi nhận ra nhau, cùng ngưng lại khi vị linh mục bắt đầu lời chào. Một bài diễn văn ngắn gọn nhưng rất xúc động. Là thông điệp của tình thương. Là sự tri ân dành cho họ. “Tri Ân Quý Ông Thương Phế Binh VNCH.” Đã nghe câu này khi người bạn loan báo. Vậy mà khi nghe trực tiếp từ vị linh mục, Danh thấy một cảm giác rất lạ đến với mình. Mình có nghe lầm không? Bốn mươi năm trên quê hương xa lạ của mình, có bao giờ nghe ai nói đến “tri ân người lính VNCH” hay “tri ân người thương phế binh VNCH” đâu! Ngày ba mươi tháng Tư năm 1975 chúng tôi bị đuổi ra khỏi các quân y viện, người mù cõng người què, người còn sức cõng người đuối sức, rất nhiều người không có tiền về quê nhà xa lắc, đã phải sống như những người hành khất. Từ đó đến nay chúng tôi như bị đặt ngoài lề xã hội. Tệ hại hơn, chúng tôi bị gọi là “có tội với nhân dân.” Chúng tôi sống nương nhờ gia đình nếu may mắn còn có gia đình. Chúng tôi sống bên cạnh sự bạc bẽo của xã hội. Chúng tôi sống thiếu bạn bè. Và vì cuộc sống lam lũ, chúng tôi đã thu mình lại. Chúng tôi làm lao động, khuân vác, làm ruộng, làm ông đồ, đi hát dạo… Đôi lúc gặp lại bạn bè, thấy có anh thất chí, có anh uống rượu quên đời, nhưng đa số chúng tôi vẫn giữ lòng tự trọng, vẫn luôn muốn đứng thẳng trên đôi chân dù đã mất của mình. Chúng tôi vẫn muốn sống, sống có ý nghĩa.

Nhìn quanh đây, những con người thương tật. Họ đã có một khoảng đời đẹp cống hiến cho đất nước. Khi đó, họ là những thanh niên tràn đầy sức sống. Một ngày, họ ngã xuống, gửi xương thịt mình vào đất. Họ trở thành thương phế binh. Chúng tôi, những học trò chăm chỉ ở ghế nhà trường, thuộc lòng những vần thơ của người xưa…

“Có rượu Trung Sơn cho lũ tớ,

Tỉnh ra hỏi đã thái bình chưa.”

Danh không uống, chỉ mong có “rượu Trung Sơn” để uống cho say ngàn vạn ngày. Vâng, chúng tôi như “lão say” Nguyễn Khuyến, sống lặng thầm mong chóng qua giấc ngủ bốn mươi năm, hay còn phải qua bao nhiêu năm nữa…

Bây giờ thì cũng có rượu, nhưng là một chút rượu nhẹ được dọn ra trong bữa cơm. Những người mang thức ăn tới mời các thương phế binh là những bạn rất trẻ. Chắc chắn họ là những tình nguyện viên. Họ không chỉ đơn giản là làm việc bác ái, mà hẳn còn do tấm lòng tri ân. Họ đến từ nhiều môi trường trong xã hội, từ mọi tôn giáo, theo lời của vị linh mục.

Trước khi ra về, mỗi người được tặng một phần quà. Vị linh mục cho biết đó là tấm lòng của những người trong nước và ở hải ngoại đóng góp. Danh nhận phần quà của mình từ một tình nguyện viên. Người phụ nữ này trạc tuổi Danh. Khi chị mỉm cười, cúi đầu và nói “cám ơn anh”, Danh bàng hoàng, tâm trí chạy vùn vụt về những ngày tháng cũ, như một cuộn phim. Những ngày vui vẻ hồn nhiên “mài đũng quần trên ghế nhà trường”, nghịch phá nô đùa, chọc ghẹo bạn bè. Những buổi chiều thơ thẩn nơi khuôn viên Nhà Thờ, mơ mộng nhìn theo một tà áo dài trắng. Những ngày trong quân trường, bạn bè là những chàng trai cùng từ giã mái trường như mình. Những ngày lăn lóc trong chiến trận, cái sống gần ngay bên cái chết. Những ngày trong quân y viện, nỗi đau đớn khôn cùng, mất mát một phần thân thể.  Những năm tháng lam lũ chốn quê nghèo… Nhưng mình vẫn sống, vẫn chống chịu.

Danh bỗng bật khóc. Nước mắt anh dào dạt rơi. Ô hay, khi mất cái chân, anh đã cắn răng chịu đựng, nào có nhỏ một giọt nước mắt! Thế mà giờ đây anh lại khóc. Anh khóc trước nghĩa tình “tri ân.” Anh biết mình, và các bạn mình, không cô đơn. Những tấm lòng “tri ân” đó sẽ giúp anh và các bạn anh đứng vững “trên những đôi chân đã mất” của mình.

Trên những cành cây trong sân Nhà Thờ, anh thấy vô số chồi non. Mùa xuân sẽ đến!

(*) Thơ Nguyễn Khuyến

Cuối năm 2017

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư Quán Bản Thảo, số 78, tháng 2/2018

 

 

Thương binh VNCH tại một buổi “Tri Ân Quý Ông Thương Phế Binh”
tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn. (Hình: chungnhan.org)