Những bài mới nhất

 

HÌnh: internet

1

Trong ánh sáng dìu dịu của ngọn đèn chong nhỏ, tôi thấy Ba tôi ngồi như một cái bóng mờ. Tôi rón rén đến gần. Ba nhìn lui. Tôi hỏi nhỏ:
“Sao Ba không mở đèn sáng lên hở Ba?”
“Ba xong rồi.”
Tôi đặt tách trà gừng lên bàn, liếc nhìn màn hình computer. Chỉ có tấm ảnh gia đình, Ba thường cho nó “hiện lên” sau khi đã làm xong việc. Tôi hơi mỉm cười, mừng vì Ba có thể nghỉ ngơi sớm.
Tôi kéo một chiếc ghế lại để ngồi gần Ba. Ba hỏi:
“Hôm nay chuyến đi của con thế nào?”
“Dạ vui, mà cũng buồn Ba à!”
“Kể Ba nghe.”
“Chỗ nursing home này vui vì có nhiều người Việt. Họ cùng ca hát với mình vì những bài hát khá quen thuộc với họ. Mà buồn vì cũng có nhiều người không thể thưởng thức, không thể hòa mình được. Họ ngồi ủ rũ, lờ đờ.”
“Tội nghiệp! Nhưng chắc là họ có nghe, có nhận được hở con?”
“Dạ con tin là thế. Bởi vậy con thấy buồn. Nhiều người là cựu quân nhân Ba à!”
Dù đèn mờ, tôi vẫn thấy được Ba nhíu mày. Ba thở dài nhè nhẹ…
“ Ba ơi, nếu có thể quay ngược lại như một cuốn phim, con tưởng tượng những người đó sẽ đứng lên, vui cười, đàn hát. Họ trở lại thời tuổi trẻ…”
Ba gật đầu:
“Phải, nếu có thể…”
Tôi chợt nhìn Ba thật kỹ. Ôi, nếu tôi có phép thần làm thời gian quay ngược lại, tôi sẽ thấy Ba của thời trai trẻ. Ba đang ở trong trường lớp. Ba đang ở trong quân trường. Ba đang ở ngoài mặt trận. Sinh động quá, Ba của tôi! Nhưng đó cũng chỉ là những điều tôi tưởng tượng ra mà thôi! Vì tôi đâu có thấy Ba những lúc như vậy ngoài đời thật. Tôi chỉ biết “Ba lúc trẻ” qua những tấm ảnh còn lưu lại, cất trong quyển album gia đình với những trang giấy bọc plastic đã cũ vàng. Tôi còn quá nhỏ lúc đi theo Mẹ vào thăm Ba ở nơi gọi là “trại cải tạo.” Lúc đó, Ba trông rất cằn cỗi mặc dù tuổi còn khá trẻ. Tôi là đứa con gái út, ba tuổi, được Mẹ bế trên tay khi đi vào trại. Lóc ca lóc cóc đến lần thăm Ba sau cùng tôi đã là một cô bé mười lăm tuổi. Ba đi hết trại này đến trại khác, trong Nam ngoài Bắc. Khi Ba ra khỏi trại tù, mái tóc Ba đã bạc hơn một nửa. Ôi! Nếu tôi có thể quay ngược được thời gian để thấy Ba trẻ lại…

 

2

Ba chuyển hết những bài Ba viết cho tôi đọc để tôi sửa lỗi đánh máy nếu có. Đó là những trang quân sử. Ba nói khi còn đi học, Ba rất say mê môn Sử. Trải qua thời gian sống trong quân đội, Ba càng nặng lòng với môn này, lúc đó không còn là môn học bắt buộc nữa, mà trở thành một niềm đam mê. Bây giờ, hằng ngày, hằng đêm, Ba miệt mài viết. Trước thì viết, sau là “gõ”. Ban đầu các con phụ “gõ” cho Ba, sau Ba tập dùng computer và tự mình gõ. Bây giờ chúng tôi “gõ” không lại Ba đâu! Ba nói chiếc máy computer đã giúp con người được tự do. Ba tra cứu tài liệu, kết hợp với kinh nghiệm chiến trường của Ba, ghi lại những dòng, những trang khiến chúng tôi say sưa đọc. Không chỉ là những sự kiện, mà còn có trong đó mồ hôi, nước mắt, máu và thịt xương.

Công việc của Ba là một công việc lâu dài. Chưa biết lúc nào Ba sẽ dừng. Ba thong thả ngồi trước máy, gõ chăm chỉ. Có khi chúng tôi đưa Ba đi thư viện để Ba xem sách, tìm kiếm tài liệu cho đúng ý. Từ ngày Ba bị té sái khớp bàn chân, chúng tôi không cho Ba lái xe nữa.
Có khi tôi bắt gặp Ba ngồi trước ảnh của Mẹ, nói lẩm bẩm những gì tôi nghe không rõ. Đôi lúc Ba mỉm cười thú vị, nhưng cũng có khi Ba lau nước mắt. Ba sống với kỷ niệm vui buồn. Ba xem như Mẹ còn sống bên Ba. Nhưng Ba lại cũng rất thực tế, đúng vậy. Ba giúp các con các cháu khi chúng cần đến Ba. Ba không phàn nàn, không trách móc, không đòi hỏi. Ba nói Ba rất may mắn vì Ba vẫn còn hữu dụng. Ba nói khi nào Ba yếu quá rồi thì các con đưa Ba vào viện dưỡng lão, vào “nursing home”. Nhưng anh em chúng tôi không chịu. Chúng tôi dư sức chăm sóc Ba mà! Tôi là con gái út chưa muốn lập gia đình, tự nguyện chăm sóc Ba. Anh chị tôi chia nhau ngày nào cũng có người đến thăm, khi Ba bệnh thì ở lại đêm để phụ tôi lo cho Ba. Chuyện đơn giản như thế.

 

3

Sau giờ làm, tôi đưa Ba đến viếng đám tang một người bạn của Ba. Bác ấy mất trong viện dưỡng lão. Thời gian gần đây Ba vẫn có những cuộc “viếng thăm” như vậy. Ba đứng rất lâu trước quan tài người bạn, Ba nói như thì thầm với người nằm trong đó. Khi ra về, ngồi vào xe, thấy tôi có vẻ ái ngại, Ba nói:

“Ba không sao đâu, con gái!”
Tôi nắm chặt bàn tay Ba, an ủi:
“Ba, con biết Ba rất buồn.”
“Phải, Ba rất buồn vì mất một người bạn. Nhưng Ba rất vui vì Ba đã từng có được một người bạn quý như vậy.”
“Ba!”
“Con biết không, bác ấy là một người “chiến sĩ” đúng nghĩa của nó. Tuy là một vị chỉ huy, nhưng bác ấy sống gần gũi với anh em trong đơn vị, sống đúng với nghĩa “chia ngọt sẻ bùi” con ạ. Khi bác ấy qua bên này, bác ấy đi làm cực khổ nhưng vẫn gom góp gửi tiền về giúp các anh thương binh nghèo khổ trong nước. Bác ấy thương đồng đội, thương lính như thế!”
Tôi vui lây với lời kể của Ba, tôi nhắc:
“Ba, Ba cũng thương đồng đội, thương lính vậy. Ba chẳng đã nói rằng Ba còn vô số mảnh nhỏ trong người chưa gắp ra hết, vì Ba che cho lính khi trái mìn nổ.”
Ba cười:
“Ừ, Ba không chết là may!”
Hai cha con về đến nhà. Ba lại ngồi vào bàn viết. Thế mà tôi vẫn cứ lo Ba ủ dột, buồn phiền. Nhìn Ba ngồi gõ bài, bỗng tôi có cảm tưởng Ba đang chạy đua với thời gian. Đừng, Ba ơi! Con muốn Ba sống lâu với con!

 

4

Tôi lại đưa Ba đến một nơi. Là bệnh viện. Ba đến thăm một thuộc cấp của Ba ngày xưa. Chú ấy vừa qua một cuộc giải phẫu. Dù còn mệt mỏi, chú ấy tỏ vẻ rất vui khi thấy Ba. Ba hỏi:

“Chú ra sao?”
“Dạ thưa niên trưởng, em… còn sống ạ!
Ba phì cười:
“Tốt!”
“ Niên trưởng coi, còn cái chân để cà nhắc qua ngày mà ông bác sĩ cũng lấy luôn. Thiệt khổ ghê!”
Tôi nghe quặn thắt cả ruột. Nhưng hai người anh em kia vẫn trêu nhau vui vẻ. Nước mắt tôi chực trào ra. Chú ấy đã bỏ lại một chân trên chiến trường. Sau này gia đình bảo lãnh chú qua Mỹ sống cũng tạm yên. Cái chân còn lại, do chú bị bệnh tiểu đường, bị hoại tử phải cắt bỏ. Từ nay chú sẽ có thêm một người bạn đồng hành là chiếc xe lăn.
Người vợ mang cháo đến, đút cho chú ăn. Chú còn trêu vợ:
“Anh còn tay mà em!”
Rồi quay sang Ba, chú nói:
“ Em còn may mắn quá phải không niên trưởng?”
Ba gật đầu cười. Tôi thấy trong mắt Ba dâng lên một niềm cảm động.

 

5

“Con lại đi với Ba chứ?”

“Dạ có, Ba! Anh chị và các cháu cũng đi nữa.”
Lần này là ngày Chủ nhật. Tôi đưa Ba đến nhà sinh hoạt cộng đồng. Đây không những là nơi có những hoạt động tương thân tương trợ mà còn là nơi tổ chức những sinh hoạt văn hóa lịch sử để cho lớp trẻ sinh trưởng trên đất Mỹ tìm hiểu về nguồn cội và không quên mình là người Việt. Theo từng thời điểm trong năm, nhà sinh hoạt tổ chức lễ giỗ các vị anh hùng dân tộc của Việt Nam. Ba cùng quý vị bô lão thắp hương trước bàn thờ Tổ Quốc. Rồi Ba chia sẻ một bài nói chuyện về Hồn Thiêng Sông Núi. Đó là một giá trị thiêng liêng vẫn luôn có trong lòng những người con dân nước Việt. Nhiều người trẻ sau đó đến gặp Ba để nghe Ba khuyên bảo, tâm tình.

Và cũng như mọi lần, khi về đến nhà, Ba lại ngồi vào bàn viết. Ba gõ thư thăm các bạn của Ba ở xa. Tôi mang đến cho Ba một tách cà phê theo yêu cầu. Ba muốn được tỉnh táo để viết nốt chương sách về những ngày khói lửa mà Ba có mặt trong đó. Tôi sợ Ba mệt. Nhưng không, Ba gõ một hơi không nghỉ. Rồi sau đó, Ba kêu tôi lại, bảo tôi ngồi gần bên, nghe Ba nói.

“Tướng Mac Arthur dẫn một câu trong bản ballad nước Anh, một bản “nhạc lính”, khi ông đọc bài diễn văn tại Quốc hội Mỹ trước khi chấm dứt binh nghiệp. “Old soldiers never die, they just fade away.” Câu này nhiều người đã trích lại, đã lấy làm cảm hứng làm thơ, đặt nhạc. Có người thấy câu nói này đầy tính tích cực, tôn vinh người lính. Nhưng cũng có người cho rằng người lính khi về già thật là buồn, như một cái bóng mờ nhạt.

“Những người lính Việt Nam ở thế hệ của Ba, bên chiến tuyến của Ba, có một thân phận rất đặc biệt. Họ đã từng có và rồi như đã mất đi. Họ mất quê hương. Và có khi họ không còn nhìn ra chính mình. Có khi họ nghĩ rằng thà chết đi trên chiến trường lửa đạn khi họ còn là người lính trẻ mà hay. Còn những người lính già, khi sống cuộc đời lưu vong hay ở lại trong nước, họ có những nỗi buồn riêng. Ba có cái nhìn của Ba. Ba nghĩ xa hơn cái thân phận của mình. Ba tin rằng Thượng Đế đặt cho mỗi người một nhiệm vụ, và cho họ ánh sáng để nhìn thấy nhiệm vụ đó. Ba đã chiến đấu với chính mình để thoát ra khỏi sự dằn vặt đến quằn quại sau chiến tranh, tình xót xa đối với chiến hữu, lòng thương nhớ quê hương mà mình đã phải bỏ lại mà đi.”

“Con hiểu Ba. Ba ơi, khi con thấy Ba hết lòng gắn bó với thế hệ trẻ, thương yêu bạn bè đồng đội, con biết người lính già này rất đáng kính. Ba chọn đứng khiêm nhường như một vai phụ trên sân khấu, chỉ mờ đi, nhưng là một điểm tựa rất vững chắc cho chúng con. Con hãnh diện lắm Ba à!”

 

6

Hôm nay đẹp trời, nhưng Ba không đi đâu. Ba dành một buổi gọi điện thoại cho bạn bè. Xem ra Ba vui lắm. Tôi chỉ “bị nghe lóm” những câu chuyện của Ba cũng đủ thấy vui theo rồi.

“Ông tướng, còn sống hở? Ông có nghe lời tôi, "scan" hình gia đình lại chưa? Chưa được hả? Thì kêu “sắp nhỏ” nó giúp mình. Đời này con trẻ giỏi hơn người lớn rất nhiều. Mình đừng có tự ái, kêu nó bày cho. Ông mà làm ra cái album gia đình, chắc chắn ông sẽ vui lắm, mà con cháu sẽ phục ông sát đất. Chúng nó sẽ có tài liệu quý giá về gia đình, không phải ai cũng làm được đâu!”

“Ông bạn già, khỏe không? Sao, quyển hồi ký của ông viết đến đâu? Quên cái gì, bảo tôi. Tôi quên cái gì, sẽ tìm trong tài liệu vậy. Trí nhớ của mình bây giờ nhiều khi không như mình muốn. Nhưng lớp già như bọn mình, viết hồi ký để lại cho con cháu đọc để biết cái đời của mình ra sao, là điều đáng làm, và cũng là để “tập thể dục” cho trí óc của mình nữa. Tôi biết tính ông, thích cái gì trung thực. Viết hồi ký là phải trung thực. Chính vì thế mà tôi rất quý ông đấy, ông bạn!”

“Em, sao rồi? Vết thương cũ lại hành phải không? Anh cũng vậy thôi, trời động là nhức lắm. Biết sao hơn bây giờ? Không ai gánh cái đau giùm cho ai được. Thôi mình chấp nhận em à! Đồng hành với cái đau. Vợ con em khỏe không? Mấy cháu chắc ra trường hết rồi? Các cháu có việc làm chưa?”

“Em, khỏe không? Gia đình thế nào? Bên nhà trời mưa nhiều không? Ngõ vô nhà em chắc ngập hết? Cần gì em cứ nói cho anh biết, đừng ngại. Anh giúp được gì sẽ ráng giúp. Em đừng buồn. Dù cho chế độ đó có ruồng rẫy anh em, nhưng lòng dân vẫn thương quý và biết ơn anh em.”

Tôi vào bếp nấu nướng một lát, quay lại thấy Ba còn chuyện trò trên điện thoại. Ba đi qua đi lại, như một ông thầy giáo đang say sưa giảng bài. Tôi lại được “nghe lóm”:
“Chú à, đến ngày Trời kêu mình đi, thì mình đi thôi. Gánh đời buông xuống. Cốt sao mình sống cho vui vẻ. Vui với gia đình, con cháu nếu có. Vào nursing home cũng chấp nhận. Cũng có những người như con gái tôi vào giúp cho mình, an ủi, ca hát với mình. Ai rồi cũng sẽ ra đi, mình cũng như bao người, không có gì lạ. Chỉ có một điều khác: đó là mình đã từng là người lính. Tôi hãnh diện về điều đó. Tôi không oán hận, mà tin tưởng vào tương lai…”

Ba quay lại, nói với tôi:
“Là chú hôm trước mình vào thăm trong bệnh viện đó con! Sức khỏe khá lên rồi. Mới khoe với Ba là chú ấy đã cầm điện thoại lên, “on air” trên cái đài của chú ấy, đài nói tiếng Việt. “Chì” thật!”

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Hình: internet

 

 

alt

 

Ông dừng xe lại trước một con đường nhỏ rẽ vào một khu dân cư. Phong cảnh này… ồ, trông quen quá! Ông cố moi óc xem mình đã thấy nó ở đâu. Một con đường đầy những cây phượng tím trồng hai bên. Ông quẹo vào, và đậu lại bên lề. Ông bước ra khỏi xe. Màu tím của những bông hoa này ông không thể nói rằng gợi cho ông cảnh ở Việt Nam được. Việt Nam không có phượng tím. Nhưng cái dáng cây, hai hàng cây tăm tắp, những hạt nước mưa còn đọng trên lá như những giọt lệ, lại đang khiến một cái gì bật ra từ trong trí ông, như thể lâu nay nó đã nằm nghỉ thật sâu.


A! Ông như thấy lại những chuyến xe tất bật ra vào con đường này. Những chiếc xe lấm lem bùn đất. Những chiếc xe mang dấu hồng thập tự. Có những người tài xế mặc đồ “xi-vin”, và cũng có những người tài xế, những nhân viên mặc đồ lính. Ông thấy mình đang nằm trên một chiếc “băng-ca”. Ông không cần ngước lên mà cũng đã thấy được trời xanh mây trắng. Ông nghe được cảm giác đau đớn đến như tê dại ở cánh tay. Ông ngửi được mùi thuốc mê. Và ông hết ý thức…


Tiếng chuông từ chiếc cell phone trong túi áo vang lên. Ông giật mình. Những cảnh trong trí vụt biến mất hết. Ông bắt máy, nói theo phản xạ:
- Hello!
- Ông! Ông ở đâu, sao chưa thấy về ăn cơm?
- Hả???
- Ông! Tôi đây nè! Ông đi đâu vậy?
- Ơ….
- Ông!
Ông ngơ ngác. Ông định thần một giây nữa, và đã nhận ra tiếng của bà. Ông đáp vội:
- Tôi đang ở… ở…
- Ở đâu?
- Tôi… - Ông ngó quanh-  Tôi đang ở…
Giọng nói bên kia nghe rất sốt ruột:
- Ông nói nhanh lên! Có chuyện gì?
- Ơ… không… Tôi không biết… ở đâu…
- Ông nói gì kỳ vậy? Ông lái xe phải không?
- Phải.
- Xe.. có bị mất không?
- Không. Xe vẫn đang ở cạnh tôi đây.
- Vậy ông làm gì? Ông đang ở đâu? Ông… ông dòm cái tên đường, nói cho tôi biết đi!
- À… à, - Ông tiến đến dòm bảng tên đường – Dalton Drive.
- Ông tới đường đó làm gì?
- Tôi… tôi không biết.
- Làm sao ông tới đó?
- Tôi lái xe… nhưng … tôi không biết làm sao tôi tới đó.
- Thôi ông ơi, để tôi nhờ mấy đứa nhỏ giúp. Ông đứng đó, đừng đi đâu hết nhé!

 

2

Đường Dalton. Đường phượng tím. Con đường đẹp đến quen thuộc… Ủa, mà làm cách nào mình đã đến đó? Mình lái xe mà!.. Ông chơi vơi trước câu hỏi của gia đình và của chính ông. Ông bắt gặp vẻ mặt lo lắng của bà, và ánh nhìn nghi ngại của thằng con. Trong bữa cơm chiều, ông gắp và đưa đẩy thức ăn vào miệng như lấy lệ. Ông cũng còn hoang mang lắm. Ông từ từ nhớ ra là mình đã ngồi vào xe và lái đi như có ai dẫn dắt. Nhớ ra được rồi thì ông lại càng hoang mang hơn. Ôi! Ông đã làm cái gì vậy???


Ông đến trước tủ lạnh, toan mở tủ lấy đĩa trái cây, nhưng ông dừng lại. Ông thấy trên mặt cửa tủ lạnh, gắn đầy những tờ “sticky notes” trên đó ghi những câu nhắc nhở: “Nhớ uống thuốc bổ lúc 6 giờ tối”, “Nhớ gọi điện thoại cho bác sĩ ngày thứ ba”, “Nhớ ghi địa chỉ nhà bác Châu”… Ông thấy bần thần quá! Ông trở lại bàn, ngồi lặng thinh.


Bà trở lại sau khi ra phòng ngoài nghe điện thoại. Bà hơi nghiêng đầu, hỏi ông:
- Ông không sao chứ?
- Tôi OK.
- Ông xem mà đi nghỉ sớm đi nhé!
- Ừ. Mà … bà này! Tự nhiên tôi muốn mình đi thăm bác Châu. Lâu quá không thăm bác. Chắc bác cũng bận đi đâu nên không thấy bác ghé mình.
Bà kêu lên thảng thốt:
- Kìa! Ông!
- Hả? Chuyện gì?
- Ông nói gì vậy? Hôm qua, nhà mình mới đi… phúng bác Châu. Bác ấy mất rồi! Ông quên rồi sao?
- Hả???
Bà im lặng. Ông cũng im lặng. Không biết được bao lâu, rồi ông nghe bà nói khẽ:
- Ông đi nghỉ sớm nhé! Tôi đi tụng kinh đây!
- Ừ, đi… tụng kinh.
Ông cười nhẹ như để làm bà yên tâm.
Bà quay đi rồi, ông thơ thẩn ra sân. Ông đã nhớ lại, hôm qua cả nhà vừa mới đi đám bác Châu.

 

3

Ông cầm cây đàn lên. Đã lâu ông không đàn. Cây đàn guitar này là của thằng cháu nội. Ông nhớ một đoạn nhạc của Glen Campbell và ông khe khẽ hát. Bỗng nhiên trong tâm tưởng của ông, như một đợt sóng, những hình ảnh từ thuở xa xưa nào lần lượt sắp hàng trước mắt. Ông thấy mình và một bạn đồng đội đến trước căn nhà của bác Châu, ở một khu ngoại ô Sài Gòn. Hai bác cùng xuất hiện ở cửa, mời họ vào. Hai người lính, áo còn khét mùi chiến trận, vào nhà, và không dám ngồi. Trong một nghi thức tự lập ra, họ đứng nghiêm chào hai bác Châu, và báo tin con trai của họ đã tử trận. Ông thấy ông và bạn mình đứng thẳng, đông cứng như hai pho tượng bằng nước đá. Ông nghe tiếng kêu khô khan của bác Châu trai và tiếng nấc của bác Châu gái. Một hình ảnh khác tiến lên che mờ khuôn mặt của hai bác. Đó là gương mặt của người chiến hữu đang ngã xuống giữa khói đạn mịt mù. Ông thấy mình đang vuốt mắt cho bạn. Rồi ông thấy mình đang băng qua một hào sâu, tiếp tục cuộc chiến. Ông nghe một cái gì nhọn và nhỏ xoáy vào da, rồi cắm vào thịt rất nhanh, rất sâu, đi qua mạch máu. Ông ôm cánh tay, lết vào một chỗ nấp. Máu chảy quá nhiều. Ông nhắm mắt, nghiến răng chịu đau. Người lính cứu thương chạy đến gần. Ông như lịm đi…


Những cảnh gián đoạn trôi qua như trong một cuốn phim bị đứt. Ông thấy lại cảnh bệnh viện bên một con đường trồng đầy cây còng. Phải rồi! Cây còng. Ông nhớ như in. Hoa màu hồng nhưng sau những cơn mưa trông sao buồn quá! Ông hiểu vì sao nhìn cây phượng tím ông lại liên tưởng đến những con đường cây còng. Ông mỉm cười. Có một chút gì vui vui, như thể ông đang được xem một cuốn truyện cũ mà mình từng rất thích.


Bà đến ngồi bên ông. Ông nhìn qua, cười nhẹ:
- Bà muốn nghe hát không?
- Có.
- Bà muốn nghe nhạc gì?
- Gì cũng được. Ông đang chơi nhạc của Glen Campbell?
- Ừ. Tôi chơi tiếp nhé! Mà bà này, hình như Glen cũng bị…
- Bị gì? Ông hát đi! Bị gì… kệ người ta – Bà nói như át lời ông.
- Được. Bà không muốn tôi nói thì thôi. Tôi hát mà có quên lời thì bà nhắc nhé!
- OK.
Ông cười xòa. Rồi ông hát. Ông không quên một chữ.
“Galveston”. Gương mặt Glen Campbell thời trai trẻ hiện ra như đang song ca với ông. Ca sĩ thần tượng của ông, cùng tuổi với ông đấy! Ông thường nói với bà: “Tay này sướng hơn tôi nhiều, đâu có ra chiến trường như tôi, nhưng tôi cám ơn ổng vì ổng cho tuổi trẻ của mình những bản nhạc hay”.

“Galveston, oh, Galveston
I am so afraid of dying
Before I dry the tears she's crying
Before I watch the sea birds flying in the sun…”

Ông dừng lại đột ngột. Bà nghĩ rằng ông quên lời. Bà nhắc:
- ... at Galveston.
Ông nhìn bà. Ông như người mê. Tôi sợ tôi chết trước khi tôi lau khô nước mắt của nàng, trước khi tôi được nhìn ngắm những cánh chim hải âu bay trong nắng… Ôi! Ông sợ ông sẽ quên trước khi ông nhớ được hết mọi điều. Bảy mươi mấy năm là một đoạn đời dài. Phải nói là những đoạn đời rất dài, nối với nhau ở những ngã rẽ. Ông đã để những đoạn đời lắng chìm. Đôi khi ông nhớ lại, nhớ rất rõ. Nhiều khi ông quên mất.


- Bà này! Tôi muốn nói với bà chuyện này, mà bà đừng có la tôi đấy!
- Ông nói đi. Về chuyện gì?
- Về Glen Campbell.
Bà như kêu lên:
- Lại nữa!
- Bà nghe này, Glen sẽ làm một “tour” hay một buổi “chia tay”, thấy cũng hay hay…
Bà ngập ngừng:
- Ông … ông muốn nói…?
Ông cười to:
- Bà khoan hiểu lầm đã. Tôi thì không. Hãy để cái gì đến sẽ đến. Tôi không muốn rùm beng đâu! Hơn nữa, mình không phải là nhân vật nổi tiếng gì cho lắm. Tôi muốn yên tĩnh.
- Nhưng nói cho mọi người, chia sẻ cho mọi người, thì cũng là một điều hay. Mà… ông ơi, nghe nói bệnh này có xác suất cao ở phụ nữ, sao ông lại…
- Bà lẩm cẩm chưa! Nam cũng bị vậy! Mà đúng ra nam là phải bị nhiều hơn chứ! Nam hút thuốc, nam uống rượu, nam ít vận động hơn nữ. Có gì đáng ngạc nhiên đâu! Có điều nữ bị nhiều hơn nam là ông Trời hơi bất công rồi đó!
- Tôi… tôi rồi… có sẽ bị không hở ông?
- Tôi tin là không. Bà kinh kệ hàng ngày, bà thông minh lắm đó, yên tâm đi!
Hai người cười vang, và lại trêu nhau vui vẻ. Ông như cất đi bớt chút gánh nặng. Nỗi ám ảnh đè lên tâm tư ông hàng ngày. Từ hôm lái xe đi như người mộng du đến khi vào bệnh viện để chẩn bệnh kỹ lưỡng, ông biết đã có một thay đổi rất lớn, như thể cuộc đời lại qua một ngã rẽ khác nữa. Nhưng ông vốn đã tập tính chấp nhận từ hồi còn trẻ, cho nên ông cố gắng bình tĩnh để đón nhận. Ông xin ngồi lại nói chuyện với bác sĩ. Bệnh ông chưa nặng, nhưng không thể coi thường. Bác sĩ cho ông xem hình chụp bộ não của ông, giải thích cho ông nghe về những chỗ có “vật lạ”. Những mảng bám! Người trong chuyên môn gọi đó là “amyloid plaque”. Vị nữ bác sĩ dễ thương lại còn lấy giấy bút ra vẽ và giải thích đơn giản cho ông biết đó là một loại chất đạm “cứng đầu”, bình thường nó tan rã, nhưng ở ông và những người đồng bệnh, chúng tích tụ lại và bám dính giữa những tế bào thần kinh, ngăn cản hoạt động của não. Cô lại vẽ thêm những “mớ tóc rối”  nằm trong tế bào thần kinh, nói rằng đó là thủ phạm gây nên sự hủy hoại của các tế bào này. Đương nhiên là ông nhận được những loại thuốc đặc trị, rồi lời khuyên về một chế độ ăn uống và tập thể dục để “làm chậm tiến trình của bệnh”, ông chăm chú nghe theo.


“Làm chậm tiến trình của bệnh”, ông lẩm bẩm.

 

4

“Cho tôi lại trí nhớ!” – Ông thét vang trong giấc ngủ. Ông choàng tỉnh, thấy bốn bề yên lặng. Người bên cạnh ông vẫn đang ngủ say. Ông nhìn kỹ gương mặt này, nhờ ánh đèn mờ mờ của chiếc đèn ngủ. Trong giấc mơ ông đã thấy lại gương mặt của từng đồng đội. Ông nhớ rất rõ tên của từng người cùng những thói quen tốt hay xấu của họ. Cả những bản nhạc mà anh em cùng đàn hát với nhau khi về hậu cứ. Rồi đến những con sông, những ngọn núi, những khu rừng… tất cả sáng ngời trong một góc trí nhớ như người ta xem một phần sân khấu sáng choang nhờ ánh đèn chiếu tối đa vào. Bên ngoài khoảng sáng đó là một vùng đen thăm thẳm. Ông thức dậy thấy mình ở trong vũng đen ấy. Người bên cạnh ông vẫn ngủ say. Ông moi óc, tự hỏi: “Ai đây?..”

 

5

Ông đón cái cốc từ tay bà. Ông mỉm cười, nói:
- Cám ơn.
Bà nhìn ông hớp từng ngụm nóng hổi. Bà hỏi:
- Vừa uống không ông?
Ông gật gù:
- Ngon lắm, cháo ngon lắm!
Bà kêu lên:
- Ông nói sao?
- Cháo… cháo ngon lắm!
- Ông nè, ông hãy nhìn kỹ tôi pha cho ông cái gì đây!
Ông nhìn vào cốc, rồi bỗng như tắc hết ý, ông lắc đầu, ngơ ngác. Bà nói nhẹ nhàng:
- Cà phê, ông ạ! Ông muốn ghẹo tôi phải không?
- Ơ! Cà phê! Cà… phê!
Bà cười rồi quay đi như coi việc vừa rồi là chuyện ông cố ý trêu bà.


Nhưng ông thì không. Ông không đùa, không trêu. Mấy ngày nay ông đã thấy triệu chứng nhầm lẫn và quên tên những đồ vật thông thường nổi lên rõ ràng. Và đặc biệt hơn cả, đáng sợ hơn cả, là sự việc đêm hôm qua ông thức dậy không nhận ra bà bên cạnh. Ông biết đó là người rất quen nhưng không nhớ là ai, phải gọi là gì. Ông cảm thấy hoảng sợ với chính mình. Nhưng sáng ra thì mọi việc lại không có gì khác lạ. Ông đã mỉm cười chào bà khi bà ra sân, nơi ông đang ngồi sưởi nắng.


Ông đến bên bàn. Ông định thần một lát, nhìn vào cái vật quen thuộc hàng ngày mình vẫn dùng. Nó tên là gì nhỉ? Ông lại chơi vơi trong cái vũng tối. Bà đến bên cạnh, đoán ý:
- Ông định gọi cho ai?
- À… cho cái cô xinh đẹp hôm trước…
- Cô bác sĩ?
- Ồ đúng, đúng, cô bác sĩ. Cô bác sĩ có dặn khi nào muốn hỏi gì thì cứ gọi, không cần phải gặp.
- Vậy ông gọi cho cô ấy đi!
Ông cầm điện thoại lên, tần ngần một lát, rồi đưa cho bà:
- Bà … bà coi số rồi gọi giùm cho tôi. Nhiều số quá!...
Và ông nói chuyện với cô bác sĩ. Ông kể cho cô nghe về những giấc mơ, những hồi ức chính xác ông tìm về, cùng những điều lạ lùng xảy ra như quên tên các đồ vật, quên cách gọi người thân, nhầm lẫn và quên những việc vừa mới xảy ra, sự khó khăn với những con số… Rồi ông nghe cô bác sĩ khuyên nhủ ông hãy bình tĩnh, và cô giải thích về “trí nhớ ngắn hạn”, “trí nhớ dài hạn” bị ảnh hưởng ra sao trong căn bệnh của ông. Ông nghe thì ông hiểu. Nhưng ông e rằng sau đó ông sẽ quên hết. Chắc là cô bác sĩ hiểu điều này hơn nhiều, nên cô xin nói chuyện với bà. Ông trao điện thoại cho bà. Ông ngồi bên cạnh. Bà cũng nói chuyện rất lâu với bác sĩ. Khi bà chấm dứt câu chuyện, ông thấy đôi mắt bà đã đỏ hoe.


- Bà này, tôi không có làm sao đâu!
Bà cười gượng:
- Vâng, ông không có làm sao. Bác sĩ bảo ông ráng uống thuốc theo đúng toa. Ông sẽ khỏi bệnh. Có tôi chăm sóc cho ông, ông vui chứ?
- Vui lắm, tôi sẽ vui lắm! Cám ơn bà.
- Ông cám ơn tôi? Khách sáo vậy?
Ông cười to như để lây sự vui vẻ cho bà. Bà soạn trong tủ ra mấy cuốn album, đặt ngay ngắn trên bàn. Bà lẩm bẩm:
- Mình sẽ coi lại mấy cuốn album này nghen ông! Hy vọng những chuyện cũ ông không quên.
- Phải. Chuyện cũ tôi không quên.
- Vậy ông có nhớ lần đầu tiên hẹn tôi, ông thấy tôi mặc áo màu gì không?
- Không phải màu, mà là áo hoa. Bà mặc chiếc áo dài hoa vàng nền xanh rất nhã. Đúng không?
Bà cười trong nước mắt:
- Ông giỏi!
- Bà ơi, tôi xin bà một điều…
- Ông nói đi!
- Lỡ chăng… đến một ngày nào đó, khi tôi không còn nhớ bà là ai, xin bà đừng giận tôi nhé!
- Sao mà tôi giận ông được? Ông bệnh mà! Nhưng ông hãy vui lên, ông sẽ khỏi bệnh.
- Mình có thể làm chậm căn bệnh lại bà ạ, bác sĩ nói vậy. Làm chậm lại. Còn nếu mình muốn chậm lại mà nó không chậm, thì mình ráng chấp nhận nghen! Tôi cám ơn bà trước, vì lúc đó bà sẽ rất cực với tôi đấy! Bà và các con có thể gửi tôi vào viện dưỡng lão.
Bà ôm chặt lấy ông:
- Tôi sẽ chăm sóc cho ông, nếu trời không bắt tôi bị bệnh như ông.

 

6

Những mảng bám ngày càng nhiều trên óc. Ông có một thế giới khác. Một thế giới của riêng ông. Bà và các con, cùng với một người được thuê để phụ giúp, đã khá vất vả khi chăm sóc cho ông, bởi ông càng ngày càng khó khăn khi tự làm những công việc đơn giản cho chính mình. Cũng khá đau khổ, khi bà nhận thấy mình không còn quen thuộc với ông nữa. Nhưng ông tỏ vẻ vui thích khi nói về chuyện quá khứ. Ông chăm chú xem những cuốn album và nhận ra hết những người trong đó. Bà vui lây. Bà cũng đi vào cái thế giới đó với ông. Chỉ bằng cách đó. Đôi khi bà đứng lại phía ngoài. Bà để cho ông tự mình hồi tưởng, đắm chìm trong những kỷ niệm của đời người. Mỗi ngày hầu như ông chỉ sống cho hiện tại một vài khoảnh khắc ngắn ngủi. Còn với tương lai, ông không thể hoạch định.


Bà không có gì để than trách. Vì ông đã nói hết những lời “cám ơn, xin lỗi” với bà khi ông còn nhận ra bà. Ông chẳng đã hát “Tôi sợ tôi chết trước khi tôi lau khô nước mắt của nàng, trước khi tôi được nhìn ngắm những cánh chim hải âu bay trong nắng” rồi đó ư? Vậy thì hãy để ông sống với những ký ức cháy bỏng một thời của ông, những đoạn đời đáng sống mà ông luôn hoài niệm. Ít ra, trong giai đoạn này, “trí nhớ dài hạn” của ông vẫn còn nguyên vẹn, não của ông vẫn còn những vùng chưa bị tàn phá, đúng theo lời bác sĩ nói “Người bị bệnh Alzheimer vẫn có một điều hạnh phúc, đó là được sống với những ký ức tuyệt vời”.


Có một ngày, bà mở ti-vi cho ông xem. Ông không còn nhận ra Glen Campbell trên màn ảnh. Vì trên đó là một Glen Campbell bảy mươi mấy tuổi, bằng với ông hiện tại. Ông chỉ nhớ một Glen thời trai trẻ. Ông thấy chán, ông lim dim mắt. Ông nghe tiếng đàn guitar của chính mình. Ông nghe tiếng hát của đồng đội vang trong cánh rừng âm u sau một trận thắng. Rồi như lật qua một trang khác, ông thấy gương mặt của anh con bác Châu từ từ nhòa nhạt. Anh đã ngã xuống. Ông nghe lại tiếng đạn chui vào da thịt, vào đến mạch máu trong cánh tay mình.


Bà đem đến cho ông một ly nước gì không biết. Ông mở mắt, đón cái ly, uống mà không hiểu đó là gì. Rồi ông lại nhắm mắt, tiếp tục phiêu du vào cõi xưa, nơi ông thức dậy trong một bệnh viện. Người lính trẻ sức sống còn tràn đầy. Cánh tay bị thương đã được băng bó. Một gương mặt cúi xuống. Một mái tóc dài được bới gọn sau chiếc mũ trắng. Ông đón ly nước từ đôi bàn tay của người con gái. Nước! Nước ngon quá! Ông nhìn người đối diện. Một đôi mắt đen nhánh đầy tình yêu đang nhìn ông.


Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

vietbao.com

Tháng 10, 2011

 


 

 

 

Chương 1

 

alt

Phóng tác theo ‎ý phim truyền hình “Ghost story” của Hoa Kỳ

Trích trong Tạp chí Tuổi Hoa số 223, 224, 225, 226 - năm 1974

1

Giảng xong bài toán, cô giáo Hòa nhìn Trí, cười:
- Thế nào, còn thắc mắc gì nữa không?
- Thưa Cô không ạ. Con cám ơn Cô.
Trí về chỗ thu xếp sách vở vào cặp. Lớp học chỉ còn lại Trí và cô Hòa. Bạn bè đã về hết, chỉ có Trí là nán lại xin cô giảng nốt bài toán mà Trí gặp phải nhiều thắc mắc. Trí đến vòng tay thưa cô, và chạy nhanh ra ngoài. Cô Hòa nhìn theo, mỉm cười, thoáng một chút hài lòng.

Cô cũng sửa soạn để ra về. Nhưng cô còn muốn đứng lại thật lâu, trên bục gỗ, để nhìn xuống những dãy ghế bàn yên lặng. Trước đây năm phút, như mọi ngày, bầy trò nhỏ ngồi đầy cả lớp, líu lo như bầy chim. Chúng nó đọc, viết, và ca hát. Mỗi ngày hoạt cảnh ấy đều diễn ra, nhưng không làm cô chán. Trái lại, cô càng yêu mến hơn. Nhất là, trong lớp có cậu bé Trí thật nổi bật nhờ trí thông minh, sự lanh lẹ và tính tình hiền lành. Cô Hòa cảm thấy có lẽ cô thương Trí hơn hẳn mọi đứa học trò khác. Cô có hơi thiên vị chăng? Không tránh được. Bởi cô nhiều tình cảm. Không có một việc gì không làm cô suy nghĩ. Ngày xưa cô hằng ao ước có một đứa con như vậy. Cô tưởng tượng trong đầu, một đứa con trai, nhanh nhẹn, thông minh nhưng phải cộng thêm sự hiền lành. Trí giống hệt đứa con trai tưởng tượng ấy. Cô thương nó nhất là vì vậy, vì đứa con trai tưởng tượng kia không bao giờ chào đời, vì chồng của cô đã chết giữa lúc cô đang ở trong những ngày hạnh phúc nhất.

Cô Hòa khe khẽ thở dài. Chuyện đã qua như một giấc chiêm bao. Cuộc sống bây giờ đơn độc và phẳng lặng. Nguồn vui duy nhất của cô là bầy trò nhỏ của trường này. Tự nhiên cô cầm lấy một mẩu phấn thừa, vẽ lên bảng một vòng thật tròn, rồi chấm một chấm lớn ngay tâm điểm. Cô mỉm cười một mình. Cô sẽ sống trong khuôn khổ của cô đến trọn đời – một nhà giáo. Sẽ sinh nghề, và sẽ tử nghiệp.

Cánh cửa lớp khép lại sau lưng cô Hòa. Cô ôm chồng vở của học trò đi về phía phòng ông Hiệu trưởng. Nghe chồng vở nặng và hương giấy học trò như có quyện mùi sữa. Cô thấy vui vui trong lòng và bước nhanh. Buổi trưa mùa thu, nắng không gắt, chỉ đủ làm trong trẻo bầu không khí mến yêu trong sân trường.

Một cô giáo đi lại, chào cô Hòa:
- Chào chị. Hôm nay chắc chị bận lắm?
- Vâng. Cô cứ nhìn chồng vở này thì biết.
Cô giáo nọ kêu lên:
- Chao ơi! Chị còn chấm bài ở nhà nữa, thì giờ đâu mà nghỉ?
Cô Hòa cười:
- Thế mới vui chứ cô! Tôi có cái thú xem vở học trò như… xem truyện.
- Em phục chị đấy! Nhưng chị nhớ nghỉ ngơi. Lúc này chị hơi ốm đấy nhé!
- Cám ơn cô. Cô lo cho tôi quá!
Hai người chào nhau đi. Những câu xã giao tuy không thân mật lắm nhưng cũng chứng tỏ được rằng những người đồng nghiệp thường để tâm đến cô Hòa và quý mến cô. Họ thường bày tỏ sự mến phục tính điềm đạm của cô và nếp sống đơn chiếc mực thước mà cô đã chấp nhận từ mấy mươi năm nay.

Cô Hòa bước xuống sân, đến bên xe của cô. Cô nhẹ nhàng đặt chồng vở lên nệm ghế sau, rồi ngồi vào chỗ lái. Tiếng máy nổ nghe cũ kỹ, như hình dáng chiếc xe của cô. Nó cũng ốm yếu, già nua và chung thủy như cô vậy. Cô lái xe chạy từ từ ra khỏi cổng trường, và gật đầu chào người gác-dan. Rồi lại nghĩ đến Trí, lại nghĩ đến đứa con trai tưởng tượng. Giờ này có lẽ Trí đang ở trên đường về nhà. Chốc lát nữa nó sẽ ngồi trước bàn ăn với ba má. Cảnh đầm ấm biết là bao!

Nhưng cô giáo Hòa không ngờ, rằng chính lúc đó, cậu bé Trí đang băng nhanh qua đường, sơ ý không nhìn thấy một chiếc xe hơi đang chạy trờ tới. Chiếc xe đang ngon trớn phải thắng gấp vì một đứa bé. Tiếng rít của bánh xe siết xuống mặt đường nghe chát tai. Trí té xuống trước mũi xe. Trí nghe như dưới chân có một cảm giác đau nhức thấu tận óc. Rồi thì toàn thân tê dần. Trí chìm vào hôn mê.

alt

 

Chương 1, Chương 2, Chương 3, Chương 4, Chương 5, Chương 6, Chương 7, Chương 8, Chương 9, Chương 10, Chương 11 (hết)

 

 

 

 

 

 

 

alt
 
Hình: Tim Tím (nguồn: Tống Phước Hiệp)
 
 
Hắn lên xe đò đi về Nam Cali. Chẳng qua là mấy hôm trước hắn đi theo người cậu thăm bà con trên Bắc rồi về lại Nam. Một chuyến đi và về không có gì đặc biệt. Nhưng rồi… hắn gặp lại “cô bé ngày xưa” của hắn. Cô bé viết truyện hoa tím!

Nếu thuật lại một câu chuyện theo kiểu “nói thẳng nói thật” như vậy thì quá dễ dàng. Ồ, quá dễ! Cuộc đời có nhiều thứ xảy ra thật dễ dàng mà hắn không ngờ.

Hồi còn bé tí xíu, mỗi khi hắn ao ước một điều gì, hắn thường nghĩ đến bà tiên hay ông bụt. Họ là những người có chút quyền phép cao siêu, dĩ nhiên là cao hơn ông bà hay cha mẹ một chút. Ông bà cha mẹ thì thường đáp ứng những nhu cầu của ta nhưng họ không có phép. Nhiều khi ta cũng thấy họ cầu nguyện, van vái. Và hắn cũng thế thôi. Cần ăn cần mặc thì nhờ cha mẹ. Nhưng khi có những nỗi ao ước hơi xa vời một chút hiện ra trong đầu thì hắn sẽ thu người lại và nghĩ đến một đấng thiêng liêng.

Nhưng bây giờ, khi hắn không cần cầu nguyện gì cả, điều mà hắn mơ tưởng ngày xưa đã hiện ra rồi kìa!

Ông cậu giới thiệu:
- Đây là em của chị dâu cháu! Cháu chưa gặp bao giờ phải không?
- Dạ chưa.
Và hắn nhìn người đối diện, chào:
- “Hi!”
Hắn nói “Hi!” rất đơn giản như bao người.  Hai vợ chồng người anh họ thì hắn đã quen biết từ lâu. Hơn thế nữa, anh lại là người học cùng một trường dòng với hắn lúc “xửa xừa xưa” ở Đà Lạt. Chị thì qua đây hắn mới biết. Chẳng cần rào đón chi thì nói ra ai cũng hiểu là chuyện xa xưa, chứ bây giờ thì hắn cũng đã có vợ con như người anh họ này rồi. Họ đã “ra đời”!

Hắn định ngồi xuống ghế, cạnh bên cậu. Nhưng chợt hắn liếc nhìn người em của chị dâu một chút. Hắn bỗng giật mình. Ủa!.. Sao cái nét này… hắn như đã nhìn thấy ở đâu. Hắn tự giải thích: Thì mình đã quen biết người chị, tất thấy cô em quen là phải. Nhưng hắn chưa kịp nghỉ ngơi để chờ giờ xe chạy thì cậu lại tiếp:
- Cô em đây đi xuống Nam để lãnh giải thưởng đấy!
Cậu thì lúc nào cũng giao thiệp rộng rãi như thế, cái gì cũng nói dù chẳng liên can! Hắn “dạ” rất lịch sự và bình thản nếu không muốn nói là hơi thờ ơ. Hắn đưa tay nhìn đồng hồ, cái đồng hồ rất trung thành của hắn ở cái thời buổi người ta chỉ thích coi giờ trong cell phone. Còn năm phút nữa. Hắn ngồi yên, lấy cuốn sách ra đọc. Eo ơi, hắn đã quen với những chuyến xe đò thế này, chốc nữa đây sẽ vang lên nhạc, kịch, hát hò cho mà coi! Phải tận dụng thời gian hiếm hoi còn yên tĩnh này mà đọc sách cái đã. Mặc kệ ai lên lên xuống xuống, tạm biệt, vẫy tay, dặn dò…

Cũng không khác một chiếc xe đò ngày xưa bao nhiêu. Chỉ có một cái khác biệt là không có những người bán hàng rong đứng dưới đường ngước nhìn lên các cửa sổ xe để mời khách mua hàng. Lại càng không có những người leo lên tận trong xe để rao mời “Mía ghim đây!”, hay “Trà đá đây!”, hoặc có khi là những quyển sách đủ loại từ tiểu thuyết cho đến sách tử vi bói toán…

Ồn quá! Xe sắp chạy rồi! Hắn theo phản xạ như bao lần, nhìn ra sau lưng mình xem có ai. Cô em của người chị dâu ngồi ngay sau lưng hắn. Hắn lại hơi ngạc nhiên… Sao cái nét này quen quá nhỉ! Hắn giữ cái đầu ngoái lại phía sau, và tìm ra một câu mở đầu câu chuyện:
- Nghe nói… chị xuống Nam để lãnh giải thưởng… giải thưởng gì vậy?
- Dạ, một giải của VB ạ!
- Ô! VB! Vậy chị lấy bút hiệu là chi?
- Tim Tím ạ.
- Hả?
- Dạ, Tim Tím ạ!
Hắn trợn tròn mắt. Hắn đã hiểu tại sao gương mặt kia có một cái gì quen thuộc. Chính là cái nét chung, rất chung trong những bìa vẽ của họa sĩ Vi Vi. Ôi! Chính là Tim Tím, người viết truyện hoa tím đây mà!
- Con nghe có quen không?
Giọng của cậu vang bên tai làm hắn bừng tỉnh. Hắn đáp nhanh:
- Dạ, quen! quen chứ cậu! Hồi nhỏ con rất là mê…
Hắn im bặt. Hắn thấy mình thật thất thố.

Những câu trao đổi diễn ra rất bình thường và tự nhiên. Hỏi thăm về gia đình, nghề nghiệp. Chỉ có một việc không được tự nhiên là hắn cứ phải giữ cái đầu ngoái lại phía sau. Mà cũng vì vậy cho nên hắn chỉ thấy được phân nửa gương mặt của người đang nói chuyện với hắn. Thốt nhiên hắn có cảm giác Tim Tím hiện ra ở đây mà như là Tim Tím viết truyện hoa tím thuở xưa.

Thuở xưa của hắn, của cậu học sinh trung học trường dòng, rất khác với các cậu học sinh “trường ngoài đời”, bởi vì các cậu luôn đạo mạo, đứng đắn, nghiêm trang… nói chung là tất cả những gì tốt lành nhất … đều phải có. Các cậu học nội trú trong trường, ngoài học phổ thông còn phải học giáo lý, tu tĩnh theo một nề nếp nghiêm khắc. Phần giải trí cũng phải theo một chương trình đặc biệt. Sách vở báo chí đều phải qua sự kiểm duyệt và cho phép của các sư huynh. Ấy vậy mà không hiểu sao, loại truyện Tuổi Hoa “hoa tím” lại lọt vào khung cửa nghiêm trang của nhà trường các cậu. Loại sách truyện này không hiểu vì sao lại không được các sư huynh cho đọc. Bỗng nhiên trong một thoáng bị thôi miên bởi kỷ niệm, hắn bắt đầu huyên thuyên về một khung cảnh của ngày xưa.

- Hồi đó, mình học lớp Mười, đã rất mê đọc truyện của “ấy”.
Hắn ngưng bặt. Không nghe Tim Tím nói gì. Chắc là Tim Tím cũng như hắn, hơi ngạc nhiên khi nghe tiếng “ấy”. Ai không phải là học trò thời của hắn sẽ không hiểu chữ “ấy” nghĩa là chi đâu! Bạn thân thì hay xưng hô “mày, tao”, “mi, tau”, “cậu, tớ” hoặc “ông hay bà, và tui”. Nhưng bạn không thân hoặc mới gặp lần đầu thì xưng hô “bạn, tôi”, hoặc “trò, tôi”, hoặc gọi “ấy”, xưng “tôi”. “Ấy” chỉ để dành cho học trò nhỏ dùng, nghĩa là dành cho con nít. Già đầu như hắn bây giờ mà gọi người kia bằng “ấy” không ngạc nhiên sao được? Nhưng sau cái tích-tắc khựng lại đó, hắn nghĩ thôi cứ mặc kệ, hắn thích dùng chữ “ấy”, như ngày xưa hắn từng ao ước được gặp Tim Tím, nói chuyện với cô bằng cách xưng hô “mình, ấy”.

Tim Tím như cũng đồng cảm với ý nghĩ của hắn, nên tiếp lời:
- Vậy sao? Bạn thích hả?
- Thích lắm, nếu không muốn nói là mê, mê truyện của “ấy” viết đó! Sao “ấy” lại viết lôi cuốn như vậy nhỉ!
- Cám ơn. (Hắn nghe tiếng của cô bạn cười rất nhẹ).
- Mình … mình học trong trường dòng, “ấy” ạ!
- Thế sao?
- Mình ở nội trú. Mà … trong đó, ngộ lắm “ấy” à, các sư huynh cấm không cho xem truyện “hoa tím”.
- Ồ, vậy sao?
- Các loại truyện thiếu nhi và các loại người lớn thì lại được, nhưng đặc biệt truyện “hoa tím” thì không.
- Sao vậy?
- Vì các sư huynh thấy giới thiệu là “loại tình cảm nhẹ nhàng dành cho tuổi mới lớn”, sợ tụi này nhiễm cái gì không hay thì bỏ bê việc học hành.
- Tình cảm nhẹ nhàng có gì là không hay?
- “Ấy”… không hiểu đâu!
- Không hiểu thật đấy!
Hắn có cảm giác ân hận vì đã nói những điều vừa rồi. Thôi thì cứ cầu mong là Tim Tím nghĩ rằng trường nhà dòng “hơi khó hơn trường ngoài đời một chút” đi vậy! Đâu phải lỗi của mình!

Hình như là Tim Tím đang buồn nên hắn không nghe cô tiếp lời. Hắn ái ngại, cố ngoái đầu thêm một chút nữa, rồi một chút nữa để nhìn cho rõ mặt người bạn mới quen này. Tim Tím đang nhìn ra cửa sổ. Hắn nhìn theo. Một vùng hoa tím ngắt ở ngoài kia. Hắn thốt lên:
- Xinh quá!
- Phải, xinh quá!, Tim Tím nói theo.
Hắn lại có thể nói chuyện nữa rồi!
- Tim Tím biết không, tụi mình cũng “mánh” lắm, khi nào về thăm nhà thì lại ra tiệm sách “rinh” mấy cuốn truyện “hoa tím” về, chuyền nhau đọc. Đọc lén đó!
- Không sợ các sư huynh phạt sao?
- Không, vì mình … trùm mền lại, bật đèn pin nhỏ lên đọc.
- Eo ơi! Thiệt không?
- Thiệt chứ! Mình đọc hết tất cả các truyện của “ấy” viết. Mình ao ước có ngày được gặp “ấy”, làm quen với “ấy”, chỉ thế thôi, nhưng mình không có cơ hội.
- Vậy đã có bao giờ bạn bị sư huynh bắt gặp đọc truyện của mình, rồi bị phạt không?
- Có! Có một lần, mình bị bắt gặp.
- Thế… bị phạt ra sao?
Hắn đoán là Tim Tím đang rùng mình vì trí tưởng tượng phong phú chắc sẽ dẫn tác giả tới một cảnh ghê rợn trong đó cậu học trò cả gan này được ăn mấy chục cái thước kẻ vào bàn tay cho đến tóe máu. Hắn lắc đầu:
- Không, không có bị phạt.
- Sao được?
- Vì, “ấy” biết không, sư huynh bắt mình lên văn phòng, bảo mình ngồi một góc, để ông đọc cuốn truyện của “ấy” đã. Ý là sư huynh sẽ tìm những điểm để buộc tội mình cho chắc chắn. Mình ngồi yên. Ông đọc trang đầu, rồi trang kế, rồi…
- Rồi sao?
- Hóa ra là ông chưa bao giờ đọc truyện “hoa tím” cả, “ấy” ạ!
- Chưa đọc sao lại cấm?
- Thì mình đã nói rồi, họ chỉ nghe nói “tình cảm tuổi mới lớn” nên sợ tụi mình bị hư.
- À ra thế! Thế rồi sao?
- Thế rồi mình ngồi chờ ông đọc cuốn truyện đến… ngủ gục luôn. Khi mình mở mắt ra vẫn thấy ông say sưa đọc. Ông đọc xong, gấp sách lại, không nói gì. Một lát sau ông bảo mình đi về phòng ngủ đi. Hôm sau, giờ tan học, mình đi ngang văn phòng, thấy một thông cáo ghi “Loại sách Tuổi Hoa “hoa tím” không bị cấm, miễn là đọc ngoài giờ học”.
- Thế sao?, Tim Tím reo lên.
- Phải, “ấy” à, bởi vì họ cấm khi họ chưa đọc. Khi họ đã đọc những cuốn “hoa tím” rồi thì họ không muốn cấm nữa. Vì họ thấy những ý hướng xây dựng học đường, xã hội; có tình yêu gia đình, tình yêu đất nước đậm đà trong đó, chứ đâu có phải chỉ là tình cảm bâng quơ, hay “làm hư” học trò. Mình mừng lắm!
- Mình cũng mừng lắm! Đến nay mới nghe được câu chuyện này.
- Tim Tím à! Hơi muộn một chút, nhưng mình rất muốn nói cám ơn “ấy”. Cám ơn “ấy” đã viết những truyện “hoa tím”. Chúng tạo nên tuổi trẻ cho mình và các bạn mình, khó quên lắm. Nhưng, “ấy” ơi, “ấy” có biết là… ngay sau khi bản thông cáo đó dán lên, tụi mình chưa kịp vui mừng, thì nó đã bị gỡ xuống, và thay vào đó là một lệnh cấm mới. Truyện của “ấy” tiếp tục bị cấm!!!
- Thế ư? Vì sao?
- Nhưng không phải là lệnh cấm của nhà trường, mà là lệnh cấm của “nhà nước mới”, của bộ Văn hóa Thông tin, tên các truyện của “ấy” được xếp vào danh sách… các sách bị cấm.
- Mình hiểu rồi! Đó là lúc “đổi đời”. Bạn đã nói đúng. Những cuốn sách của Tim Tím nằm trong danh sách dài dằng dặc những truyện họ gọi là “văn hóa phẩm phản động, đồi trụy”...
- Xin lỗi Tim Tím…
- Bạn đâu có lỗi gì!
- Lỗi mình đã kể lể.
- Không, hãy quên đi. Bạn nhìn kìa! Hoa tím vẫn đẹp đó!
Hắn nhìn theo Tim Tím. Vẫn là một dải màu tím nhẹ vun vút trước mắt. Xe đang chạy với tốc độ tối đa cho phép trên xa lộ. Hắn có cảm giác những ngày êm đềm của hắn cũng đang chạy về vùn vụt. Cậu học trò trường nhà dòng, sau “ngày đổi đời” không còn ở trong trường dòng nữa. Ba hắn đi vào tù. Mẹ và anh em hắn muốn yên thân nên ở lại Sài Gòn. Hắn không về lại trường nhà dòng, không về lại Đà Lạt. Có lần hắn gặp lại người anh họ, biết được rằng anh cũng không còn học trường nhà dòng nữa. Họ đã “ra đời”. Hắn không có cơ hội khoác áo làm Cha, nhưng hắn trân quý lắm cái thời học trường nội trú, với tình cảm trong sáng của một cậu học trò tuổi mới lớn đêm đêm trùm mền xem lén truyện “hoa tím”.

Hắn không biết mình đã im lặng bao lâu, nhưng có thể tính được dựa vào thời lượng của một vở kịch hài trên màn hình trong xe, vở kịch mà khi hắn và Tim Tím nói chuyện hắn đã không hề biết đến. Hắn trở về thực tại khi thấy màn hình tắt tối đen sau vở kịch. Xe đã vào khu chợ ABC. Mọi người đứng dậy, rục rịch chờ lấy hành lý. Hắn giật mình, hỏi nhanh:
- Thế… chiều nay “ấy” đi lãnh thưởng của VB phải không?
- Phải. Bạn có đến không?
- Mình sẽ đến chứ! Nếu họ bảo mua vé mình cũng sẽ mua vé.
- Vậy cám ơn bạn. Mình hẹn gặp bạn nhé! À!... bạn ơi!
- ???
- Bạn đừng ái ngại cho Tim Tím nhé! Tất cả đã qua rồi! Mấy mươi năm cũng đã qua rồi! Bạn thấy đó, Tim Tím không có gì thiệt thòi cả.
- Phải. Mình vui lắm, “ấy” ạ!
Hắn nhìn một lần nữa, Tim Tím. Vẫn là Tim Tím như trong những giấc mơ của hắn ngày xưa.

Hắn hân hoan thả bộ trên lề đường trong khu chợ, dừng lại trước một tiệm hoa. Hắn chợt thấy cuộc đời thật mầu nhiệm. Ngày xưa ấy, khi hắn còn là cậu học trò lớp Mười, ngoài giờ học thường lẩn tránh cái nhìn “quan tâm” của các sư huynh, ăn cơm thì mơ màng nghĩ đến truyện hoa tím, đêm đến thì trùm chăn đọc truyện hoa tím, ngủ cũng mơ thấy Tim Tím, mà Tim Tím thì đã là một sinh viên, ngoài giờ học cô lặng lẽ đi vào quân y viện băng bó vết thương cho những người lính, đàn hát bên giường bệnh, và cô đã viết nên những tác phẩm trong thời chiến.

Hắn nghe mắt mình cay xè. Nhưng hắn lại mỉm cười được ngay. Bao nhiêu năm qua hắn đã học hiểu được những cái mầu nhiệm trong cuộc đời. Hắn trông khá già cỗi nhưng tâm hồn của hắn vẫn có một cái gì đó rất trung thành. Hắn có vẻ hơi “cõi trên” một chút.

Hắn chọn những bông hoa tím, nhờ cô bán hàng bó lại thành một bó, thắt một dây nơ màu tím. Hắn nghiêng đầu ngắm món quà mà mình sẽ trao tặng cho người bạn mới nhưng “rất xưa” của hắn.

Vâng, chiều nay hắn sẽ trịnh trọng tặng cho Tim Tím bó hoa tím này ngay sau khi cô lên nhận giải thưởng của VB.
 
Tháng 8/2011

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
 
Thư Quán Bản Thảo số 48, tháng 9 năm 2011
 
https://vietbao.com/a177137/co-be-viet-truyen-hoa-tim
 
 
 
 
 

alt

 

 

Hai người bạn gặp nhau lần đầu tại phi trường Hongkong. Xuân đi từ Sài Gòn. Thu đến từ Hà Nội. Việc nhận diện nhau cũng thật dễ dàng vì họ đã làm quen và dặn dò nhiều lần qua điện thoại về lộ trình và giờ giấc của các chuyến bay. Xuân lớn hơn Thu một vài tuổi. Hai người cùng ngạc nhiên khi thấy người kia có nét hao hao giống mình. Những e ngại hầu như đã biến đâu gần hết. Từ đó cho đến khi vượt đoạn đường bay mười mấy giờ đồng hồ đến San Francisco, họ đã trở nên đôi bạn. Thêm một đêm bay nữa, họ đến Atlanta, Georgia.

Hai người không có thời gian nghỉ. Sáng hôm mới đến, lo xong chỗ ở là họ phải đến CDC (Centers for Disease Control and Prevention) trình diện ngay. Rồi thì bắt tay vào việc: học hành và làm việc trong phòng thí nghiệm. Tuy vậy, không phải mới đến trung tâm là đã thành “cư dân” của trung tâm ngay đâu! Mỗi người được phát một thẻ “visitor” (khách) để tạm thời được ra vào trung tâm. Họ được hẹn ngày hôm sau đi làm “fingerprint” (lấy dấu tay) ở một địa điểm khác, rồi sau đó sẽ được chụp ảnh để làm một cái badge (phù hiệu) đeo trên áo, từ đó mới được coi như “nhân viên tạm” trong thời gian đi tu nghiệp, và thế có nghĩa là được quyền mang một thẻ “khóa magnetic” (khóa từ tính) để ra vào các cửa, đến phòng thí nghiệm; và rồi cũng như những nhân viên thực thụ của trung tâm, họ được ăn uống ở cafeteria, được tham dự các buổi báo cáo khoa học…

Đối với Xuân, tuy chưa sống ở Hoa Kỳ nhưng Xuân đã tìm hiểu nhiều về xứ sở này qua người chị ruột đã sống ở California từ hơn hai mươi năm nay. Còn với Thu, tất cả đều mới lạ và đáng ngạc nhiên. Tiếng Anh của Thu không mấy lưu loát. Thu bảo Thu phải nhờ Xuân giúp nhiều. Không sao đâu! Xuân đã quen làm việc với các chuyên gia ngoại quốc. Xuân đã từng làm thông dịch viên cho các chương trình y tế. Xuân sẵn sàng giúp cô bạn mới từ nay sẽ sống với mình. Và như thế, mặc nhiên, họ đã coi nhau như hai người bạn, hai chị em.

Ngày đi làm fingerprint, hai chị em được đưa đến một tòa nhà nằm trên một ngọn đồi. Nhiều người đã có mặt ở đó. Chờ đợi rồi cũng đến lượt mình. Xuân và Thu đã làm xong. Nhưng người tài xế lo việc đưa đón hai người bị một tai nạn nhỏ, không đến đón được. Thế nên Xuân và Thu phải đi lang thang trong sân, hết nhìn người đến kẻ đi rồi lại ngắm hoa cỏ. Ồ phải chi mình rành đường một chút thì chắc sẽ đi đón xe bus mà về. Hai chị em lại an ủi nhau “Không sao đâu!”, rồi lại đi dạo chơi, chờ đợi.

Tòa nhà nằm trong một khuôn viên thơ mộng. Một nơi có thật nhiều hoa. Từ lúc đặt chân đến Hoa Kỳ tới nay, qua ngày thứ nhì, hai bạn mới có dịp ngắm một quang cảnh mới mẻ. Không khí trong lành và những bông hoa thắm tươi gợi Xuân nhớ nhiều đến Đà Lạt. Trên đỉnh đồi này nhìn xuống, thấy những con đường xinh xắn uốn lượn. Atlanta thật đẹp!!! Nhưng đó chỉ mới là vùng đồi núi vắng vẻ mà thôi, hai bạn vẫn chưa biết phố xá là như thế nào, chỉ nhớ lúc ở phi trường về có đi ngang qua khu downtown, hai bạn được nhìn lướt qua những ngôi nhà cao trang trọng còn im ngủ trong sương sớm…

Đến một lúc cảm thấy đói, không còn muốn đi dạo nữa, hai bạn bắt đầu nghĩ tới việc tìm nơi mua thức ăn. Nhưng thật lạ, nhìn quanh không có một tiệm ăn nào, cũng không có một cái máy bán bánh kẹo tự động nào. Hai bạn bảo nhau:
- Giá mà có được một tiếng rao hàng nhỉ!
- Đúng rồi! Phải chi có một gánh hàng rong…
Nói như thế rồi cùng nhìn nhau cười thú vị.

Và rồi đến một lúc không thể cười được nữa, hai bạn cùng ngồi xuống ghế. Xuân nhìn Thu, thấy nét mặt bạn không còn vẻ hồng hào như sáng nay. Và chợt Xuân nghe tay chân mình bủn rủn. Ôi, đói quá! Mỗi đứa một ly sữa lúc sáng sớm, giờ đây nghe bụng trống rỗng. Mình lại vô ý không mang theo chút bánh kẹo gì để dằn bụng, cứ tưởng đi một chút rồi về ăn trưa, hoặc ít ra có đói cũng tìm được một nơi mua thức ăn. Ở đây là cơ sở thuộc cảnh sát, mình đâu có thể vào sâu bên trong tòa nhà. Xung quanh cũng không có một ngôi nhà nào khác nữa. Không chợ búa, không tiệm tùng. Hai bạn thất vọng, cùng cầu mong có ai thay cho người tài xế để đến đón họ về. Nhưng hoàn toàn im lặng. Không có chiếc xe nào mang dấu hiệu của CDC xuất hiện như họ mong.

Xuân đề nghị:

- Thôi mình nói chuyện vậy. Đi không nổi vì sẽ hao năng lượng. Nhưng ngồi mong ngóng thì mệt mỏi lắm!
Thu cười nhẹ:
- Phải chị ạ! Nói chuyện cho quên đói.
- Hồi còn bé, mỗi khi đói mà chưa được ăn… thì chị hát.
- Ô, vậy à? Em thì ít khi chịu nhịn đói. Nhưng em nghe bố em kể về nạn đói năm 1945.
- Chị cũng nghe ba má chị kể lại. Đó là trận đói khủng khiếp nhất của nước mình. Lúc ấy chị và em đều chưa ra đời.
Thu đưa tay vuốt nhẹ một bông hoa, giọng lâng lâng:
- Nghĩ cũng lạ chị nhỉ! Hai chị em mình có duyên với nhau thật, học khác ngành mà rồi làm cùng một lãnh vực, được đi tu nghiệp cùng một nơi. Ở hai miền xa lắc mà bỗng thấy gần như hai chị em một nhà.
- Vâng, thì bây giờ mình đã ở cùng một phòng, ăn cùng một mâm nữa. Thu hãy nói cho chị biết vì sao em được chọn qua đây học.
- Em ấy à? Em được cho đi tu nghiệp ở đây là vì bố em làm chức lớn trong ngành, việc đề nghị cho em đi rất dễ dàng. Còn chị?
- Chị ư? …Chị không có “thân thế” gì cả. Chị được cho đi là vì… chị qua được những vòng tuyển chọn, có chấm điểm, có bằng chứng hẳn hòi.
- Vậy là chị may đấy! Có nhiều người làm giấy tờ xong vẫn hụt đi.
- …Thì chị đã từng….

Xuân ngưng lại, không muốn nói tiếp. Xuân đã toan nói “Chị là con của sãi ở chùa…” nhưng thấy không nên, vì Xuân nhận thấy nét mặt của Thu thật dễ mến. Thu chắc cũng đã biết nhiều những mẩu chuyện như vậy, mình kể thêm một chuyện nữa mà làm gì! Kinh nghiệm về những lần bị dìm hồ sơ, bị cướp học bổng đi tu nghiệp, đi học, vẫn còn rõ ràng với Xuân lắm. Đơn giản chỉ vì Xuân là người sống trong miền nam, không có “thân thế”. Xuân tự hỏi không biết rồi với cái bề ngoài dễ mến của Thu và tính nhẫn nhịn của Xuân, hai người bạn này có thể sống hòa đồng được với nhau trong một thời gian khá dài hay không? Hai hoàn cảnh thật khác biệt, cả về nguồn gốc gia đình lẫn bối cảnh xã hội. Xuân chợt thở dài. Xuân cũng không ngờ mình đang ngồi ở đây, và rồi sẽ được học hành, làm việc ở xứ Mỹ trong một thời gian. Xứ Mỹ, quê hương thứ hai của gia đình người chị ruột, những người đã đến bến bờ này bằng mồ hôi và nước mắt, trên con thuyền tả tơi dập vùi trong sóng gió. Hai mươi năm sau, em của chị đi sang xứ Mỹ bằng máy bay. Tất cả đã thật khác. Chỉ có một điều không khác: đó là hoàn cảnh của đất nước vẫn không thay đổi bao nhiêu.

Không biết lặng yên bao lâu, rồi cả Xuân và Thu cùng ôm bụng. Cái đói lại đến! Xuân chợt nhớ thật rõ một bài văn được học hồi trung học, bài “Đói” của Thạch Lam. Thuở nhỏ Xuân không mường tượng ra cái đói là ghê gớm thế nào mà nhà văn Thạch Lam mô tả hay đến thế. Một bài văn ngắn đã đi vào chương trình giáo khoa. Có đoạn Xuân đọc gần như thuộc nằm lòng: “Sinh rùng mình khi nghĩ đến trước cái mãnh liệt của sự đói, chàng cảm thấy sự cần dùng của thân thể trấn áp đuợc hết cả những lệ luật của tinh thần… Mùi xào nấu đồ ăn ở dưới sân nhà đưa lên làm cho chàng khó chịu vô cùng. Sinh cúi đầu trên bao lơn nhìn xuống xem họ làm bữa cơm chiều. Các thức ăn tuy tầm thường, nhưng Sinh lấy làm lạ rằng chàng chưa bao giờ thèm muốn những cái đó như chàng thèm muốn bây giờ”. Bây giờ thì có thể tưởng tượng được rồi đây! Không biết là do đói hay do ánh nắng chiều sắp tắt chiếu thẳng vào mặt làm cho mắt hai bạn như mờ đi. Ôi! Qua Mỹ, đi tu nghiệp, có xe đưa đón, mà lại nhịn đói như thế này! Chuyện này mà kể ra chắc không ai tin. Không hẹn mà cả hai lại cùng đứng lên. Nhưng Xuân cảm thấy không còn sức. Còn Thu kêu lên nho nhỏ:
- Ôi giời ơi!
Xuân đang ỉu xìu nhưng cũng bật cười khi nghe tiếng than đó. Vừa lúc ấy chiếc xe mang dấu hiệu CDC hiện ra. Xuân vỗ tay như trẻ con. Còn Thu reo lên thất thanh:
- Sống rồi!!!

**

Từ hôm sau đôi bạn luôn nhắc nhau đừng coi thường chuyện ăn uống. Mỗi sáng khi ăn điểm tâm Xuân đều bảo Thu:
- Ăn nhiều nhiều một chút, trưa nếu ráng làm việc mà không có thì giờ nghỉ để xuống cafeteria ăn, thì cũng không bị đói.
Còn Thu thì cẩn thận hơn, mỗi ngày đều tự tay gói ghém một ít bánh cookies, chips hay chocolate đem theo cho cả hai chị em. Nhìn những thức ăn đó, hai bạn nhớ đến buổi chiều khi đi làm fingerprint về đến nhà, người lả đi, hai bạn kịp thấy hai túi quà của người thư ký nhà trọ đưa cho hôm qua, chưa kịp mở. A, thì ra là “túi thức ăn cứu đói”! Nhà trọ đã dành cho mỗi người khách mới đến một túi như thế, bên trong có một phong bánh đậu phọng, một phong kẹo, một gói mì ăn liền, một gói trà, một gói cà phê và một gói đường. Hai bạn nhìn nhau rưng rưng nước mắt. Người ta thật chu đáo. Thế mà mình đã không biết đến điều này.

Gọi là nhà trọ cho gọn, thật ra nơi Xuân và Thu cư ngụ trong suốt nửa năm ở Atlanta là một tòa nhà gần giống như khách sạn, nhưng trả tiền ở từng tháng, mỗi người có phòng ngủ riêng, còn thì sử dụng nhà bếp và phòng ăn chung nên có được bầu không khí như ở gia đình.

Villa International, tên của nhà trọ là thế. Xuân và Thu hay gọi tắt tên nhà là “Villa”. Dần dần Xuân và Thu có dịp tìm hiểu thêm về Villa, mới biết đây là nhà trọ được lập ra do Hội Thánh Tin Lành để giúp đỡ những người đi học và tu nghiệp - không phân biệt chủng tộc, tôn giáo - có nơi ăn ở rẻ và thân mật…

Villa International là một khu nhà hai tầng nằm ngay dưới chân đường đồi, hơi khuất sau một ngõ quanh. Có một khu đậu xe rộng rãi, rồi đến một khoảng sân xinh xắn với những bàn ghế nho nhỏ để mọi người có thể ngồi nghỉ chân. “Đi về Villa”! Sống nửa năm ở đó, nghe cũng thân ái khi gọi như vậy, giống như “đi về nhà”. Sáng dậy sớm, chuẩn bị ăn nhẹ rồi đi bộ qua CDC chỉ mất 5 phút. Trưa ăn tại cafeteria của trung tâm. Chiều về Villa nấu nướng với nhau và ăn tối. Đêm thì xem TV chung dưới phòng sinh hoạt, hoặc chơi bi-da, hoặc đọc sách trong thư viện. Và cũng có một nhà nguyện nho nhỏ dành cho những ai muốn vào cầu nguyện.

Những cư dân của Villa đến từ khắp năm châu. Họ dễ hòa nhập với nhau trong bầu không khí thân thiện – một “home-away-from-home”. Ngày ngày họ tỏa ra hai nơi để học và làm việc: CDC và trường đại học Emory. Cả hai nơi này đều gần Villa nên tất cả cư dân đều không phải sắm xe hơi hay bận tâm về các lộ trình xe bus. Rồi thì băng qua một con đường nhỏ, lên dốc một ngọn đồi khác là họ có thể đến một siêu thị để mua sắm thức ăn về dự trữ và nấu ăn hàng ngày. Cuối tuần lại có những tình nguyện viên làm việc trong Hội Thánh đến để lái xe đưa họ đi phố mua sắm hoặc du ngoạn các danh lam thắng cảnh. Muốn đi đâu khác nữa thì mọi người đã có xe lửa, xe bus. Và những chuyến xe bus của vùng này, đến và đi rất đúng giờ, mà cũng thật đặc biệt: rất vắng khách, ngoại trừ lúc giờ tan sở thì có hơi đông một chút, còn thường thì chỉ có một hay hai người khách là cùng, nếu không muốn nói là nhiều lúc chỉ có người tài xế trên xe.

Những tháng ngày học hành và làm việc cũng khá bận rộn. Tuy vậy, Xuân và Thu cũng dành thời gian những dịp lễ để đi thăm bà con. Xuân có khá nhiều thân nhân ở rải rác khắp Hoa Kỳ, còn Thu chỉ có một người cô trước kia đi học ở Đông Đức rồi sau khi nước Đức thống nhất đã xin qua Mỹ ở lại. Xuân ít khi bàn đến chuyện thời sự với Thu. Xuân không muốn những điều tế nhị ấy làm ảnh hưởng đến hòa khí tốt đẹp giữa hai bạn. Những người có duyên với nhau mới gặp được nhau. Cùng làm việc trong khoa học, thế là đủ rồi! Xuân tự dặn mình như thế và cảm thấy tâm yên ổn. Hằng đêm, hai chị em cùng ôn bài, bàn luận về công việc làm trong ngày, và rảnh rang thì cùng chia xẻ những câu chuyện về gia đình, chồng con. Xuân có hai cô cậu nhóc đang học trung học, còn Thu mới có một con trai hai tuổi. Nói chuyện về con cái bao giờ cũng là những đề tài vui và chẳng có gì để né tránh cả.

Một buổi trưa, khi Xuân và Thu đang đứng trong hành lang trước thư viện, một người đến trước mặt hai bạn, nhìn đăm đăm một chút rồi bỏ đi. Xuân kịp nhận ra chị là một phụ nữ đứng tuổi người Việt Nam. Chị đẩy một chiếc xe trên có một cái thùng to và các dụng cụ quét dọn cùng các chai hóa chất tẩy rửa. Bóng chị khuất sau khúc quanh dẫn đến khu nhà vệ sinh. Xuân và Thu hơi băn khoăn nhìn theo. Thu thắc mắc hỏi:
- Nơi đây có nhân viên người Việt sao chị? Em tưởng chỉ có người đi học như chị và em….
Thu bỏ lửng câu nói. Xuân im lặng. Chính Xuân cũng tự hỏi không biết người công nhân vệ sinh ấy là ai, gia cảnh thế nào. Trong đầu của Xuân vẽ ra nhiều giả thuyết.

Bẵng đi vài tuần lễ, có một em trai nét mặt sáng sủa đến tìm hai bạn trong phòng thí nghiệm, ngỏ lời thay cha mẹ em mời hai bạn cuối tuần đến nhà em dùng cơm. Em cũng là người Việt, đang thực tập trong CDC, chuẩn bị tốt nghiệp đại học y khoa. Tuy có hơi ngần ngại nhưng Xuân nhận lời, Thu thấy thế cũng đồng ý theo.

Ngày gặp gỡ tại nhà của em sinh viên cũng là ngày hai bạn được biết mẹ của em chính là người phụ nữ trong hành lang hôm nọ. Những lạ lùng bỡ ngỡ nhanh chóng qua đi. Xuân và Thu được tiếp đãi với một bữa cơm Việt Nam thật ngon lành và… khá thịnh soạn. Trong ngôi nhà gọn gàng và đầm ấm, cha mẹ của em sinh viên không e ngại khi tâm tình cùng hai bạn.
- Chúng tôi là gia đình cựu quân nhân. Hai cô thấy đó, chúng tôi rất khó khăn trong hoàn cảnh mới. Nhưng chúng tôi không ngại. Ông xã tôi bao năm tháng ở trong “tù cải tạo”, tự học nghề mộc, nay xin làm công nhân trong một xưởng đóng bàn ghế. Tôi không có vốn liếng Anh văn, nên chấp nhận làm “nghề janitor”. Làm gì cũng được phải không các cô?- miễn được sống lương thiện và có tiền. Chúng tôi vất vả kiếm tiền nuôi các cháu học lên tới đại học và dành dụm mua nhà, mua xe. Đâu có gì phải xấu hổ, phải không các cô?
Xuân không nói gì, chỉ gật đầu cảm động. Nhưng Thu đang thấm nước mắt và nói hơi nghẹn ngào:
- Em cảm phục anh chị lắm. Đồng tiền anh chị làm ra, thật quý báu. Bởi vì… nó thật sạch sẽ.

**

Thu theo Xuân đi đến thăm nhà những người thân của Xuân thường hơn. Hai bạn siêng ra phố, vào ăn tiệm Việt Nam và đem những tờ báo về đọc. Thu càng ngày càng tỏ ra đăm chiêu, trầm mặc.

Nhiều khi hai bạn nhắc lại cái ngày bị nhịn đói và cười ngặt nghẽo. Có hôm đứng lại trước một shelter (nhà tế bần), Xuân chỉ vào những người đang sắp hàng nhận thức ăn và bảo bạn:
- Thật ra bảo là qua Mỹ nhịn đói cho nó lâm ly ai oán, chứ ở Mỹ không lo đói, phải không Thu? Tụi mình đói có một bữa, đâu thấm gì so với cái đói của dân mình, cái đói của những người trong “tù cải tạo”, cái đói của những em bé thất học lang thang ở đầu đường xó chợ, trên những bãi rác; cái đói triền miên của những người dân, đói không chỉ miếng ăn, mà còn đói nhiều thứ khác, đói công bằng, đói tự do, đói sự thật….
Xuân nghẹn lời. Xuân không muốn nói thêm nữa…

Thời gian thấm thoát qua nhanh. Hai bạn trở về Việt Nam. Những quyến luyến với các thành viên của Villa – từ nhân viên cho đến người trọ học – thật sâu sắc làm Xuân và Thu thấy rất bùi ngùi. Xuân cũng bịn rịn chia tay với gia đình người chị ruột qua cuộc thăm ngắn tại California. Rồi từ đó, Xuân và Thu, hai người bạn, hai chị em khác họ, cũng nói lời tạm biệt để sau đó kẻ nam, người bắc.

Xuân đã có một quyết định. Nhìn tận mắt đất nước và con người tự do ở Hoa Kỳ, Xuân đã nhờ chị xúc tiến giấy tờ bảo lãnh đang chờ đợi. Xuân hiểu rằng ra đi đồng nghĩa với việc bỏ tất cả để làm lại từ số không. Cũng như những người bất chấp nguy hiểm đi trên sóng gió ngày trước vậy. Cũng như cha mẹ của em sinh viên kia vậy. Vợ chồng Xuân cũng sẽ như thế. Nhưng các con của Xuân sẽ có cả một chân trời của cơ hội.

Hơn năm năm sau, vào cái ngày gia đình Xuân sắp rời Việt Nam, Xuân gọi điện thoại ra Hà Nội thăm Thu và vắn tắt báo tin. Đầu giây bên kia, giọng của Thu ướt sũng như chìm trong nước mắt:
- Em chúc mừng chị, chúc mừng gia đình chị. Chị biết không, từ ngày đi tu nghiệp về, em đã có một cái nhìn khác đối với cuộc đời mà em vẫn sống. Ở đây, em sống trong một tầng lớp đầy danh vọng, có chức có quyền, no đủ đến thừa mứa. Nhưng em ao ước mình cũng được ra đi như chị, để cho con của em được sống trong một xã hội tốt đẹp hơn cái xã hội gian dối này. Chị ơi! Nếu được ban cho một điều ước, em xin ước rằng: “Em ước được là một “người làm nghề janitor” như người phụ nữ mình gặp trong CDC, chỉ để cho con em được giống như con của chị ấy, chỉ thế mà thôi!..”

 

Tháng 7, 2009

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com