Những bài mới nhất

 

Nguồn hình: internet

 

 

 

 

Tôi đọc một mẩu tin.

Họ là đôi song sinh duy nhất của NASA sắp tham gia vào một dự án nghiên cứu về ảnh hưởng trên gene trong những chuyến phi hành dài ngày. Nói một cách dí dỏm là họ sẽ trở thành hai chú chuột lang (guinea pigs) trong thí nghiệm này.

Phi hành gia Mark Kelly, người chỉ huy trong bốn phi vụ của phi thuyền con thoi, kể cả chuyến bay cuối cùng của phi thuyền Endeavour, sẽ đóng vai đối chứng ở trên mặt đất, trong khi người anh em song sinh của ông thì ở trên quỹ đạo, đóng vai đối tượng thí nghiệm.

Mọi người nghe nhiều đến Mark Kelly bởi ông là phu quân của nữ dân biểu Gabrielle Giffords, người bị một tay súng điên loạn bắn vào đầu giữa lúc bà đang nói chuyện với cử tri tại Tucson, Arizona vào tháng Giêng năm 2011 – cuộc xả súng đã lấy đi mạng sống của sáu người và làm bị thương hai mươi sáu người khác. Sau đó Mark Kelly đã rời NASA để dành trọn vẹn thời gian chăm sóc cho vợ mình. Nhưng người “thường dân” như tôi không hề biết đến Scott Kelly. Không ngờ Mark Kelly lại có người anh em song sinh cùng làm trong lãnh vực không gian như ông. Scott Kelly sẽ thực hiện sứ mạng lâu một năm trên Trạm Không gian Quốc tế (ISS), phi vụ độc hành dài nhất từ trước tới nay của NASA. Thử nghiệm này chỉ có tính quan sát, nhưng có lẽ những gì mà giới khoa học tìm thấy được sẽ rất thú vị.

Cả hai anh em họ đều giỏi, tôi suy nghĩ chủ quan như vậy. Và khi hai cá thể giống hệt nhau được đặt trong hai môi trường hoàn toàn khác biệt, họ sẽ có những biến đổi thế nào? Tôi gật gù, cảm thấy hào hứng lắm. Để chờ xem!

Nhưng tôi chợt ngẩn người.

Tôi cũng có một người anh em song sinh. Sinh đôi cùng trứng. Nghĩa là chúng tôi giống hệt nhau, như Mark và Scott. Ở nhà, ba má tôi cho tôi làm anh, vì tôi “ra” trước. Nhưng sau này, tôi lại nghe có một quan niệm trái ngược, đó là: ai ra trước thì làm em, vì “đứa kia” nhường em nó, cái gì cũng nhường ưu tiên cho em hết cả. Quan niệm này cũng hay hay đấy! Tôi không biết các gia đình có con sinh đôi nghĩ thế nào. Nhưng anh em tôi không quan tâm lắm, vì chúng tôi vẫn gọi nhau bằng tên, không ai giành làm anh hay làm  em gì cả.

Ở gần tuổi năm mươi, hai anh em Kelly bước vào cuộc thí nghiệm “thay đổi theo môi trường”. Cũng vào tuổi gần năm mươi, anh em tôi nhìn lại sự thay đổi, nếu có, theo môi trường. Thử nghiệm của nhà Kelly sẽ là trong một năm. “Thử nghiệm” của anh em tôi, tính ra đã gần ba mươi năm!

**

Tôi ngồi vào máy. Yahoo messenger. Chat!

“Hi!” (tôi chào)

“Hi hi” (bên kia cười)

“Hành làm gì đó?”

“Chat.” (Vậy là hòa đồng ngôn ngữ)

“Vẫn vui với lũ nhỏ chứ?”

“Vẫn. Còn Phi?”

“Vẫn. Toàn người lớn.”

“Hi hi”

Chưa gì thì người anh em của tôi đã chào:

“Bye nghen! Có khách rồi!”

“OK, bye.

Và thế là cái khung chat chỉ còn mình tôi. Tôi thở dài. Hành, anh em sinh đôi của tôi đấy, lúc nào cũng bận rộn. Tôi có “người lớn” là các bệnh nhân của tôi. Còn Hành, như con thoi, chạy tới chạy lui không thấy lúc nào nghỉ. Má tôi vẫn ghẹo anh em tôi: đứa thì bay, đứa cứ phải đi bộ. Chẳng là ba của chúng tôi mê truyện và phim khoa học không gian lắm, nên ông đặt tên chúng tôi là Phi và Hành, mà chắc là ông cũng mong ước chúng tôi lớn lên sẽ làm phi hành gia. Cái năm mà Apollo 11 đưa người lên mặt trăng, cả nhà chúng tôi say mê dán mắt lên ti-vi, hình đen trắng. Hai thằng tôi mới có năm tuổi, thì thầm với nhau về nỗi ước ao được mặc bộ đồ phi hành gia, bước khệnh khạng trên mặt đất cung trăng, trông oai “ra phết”. Chỉ biết là oai thôi, không biết gì hơn. Vậy mà, càng lớn thì anh em chúng tôi càng mê làm phi hành gia thật sự. Ba má chúng tôi mừng lắm, nhưng cũng lo lắng lắm. Bởi vì phải học cho thật giỏi, muốn làm phi hành gia phải ra ngoại quốc học chứ! Anh em tôi còn nhỏ quá, chỉ việc chúi mũi vào sách vở, phim ảnh, xem cho “đỡ ghiền”. Hai chú nhóc tôi học cũng không tệ, lúc nào cũng chia nhau hạng nhì, nhất trong lớp. Ba má chúng tôi ươm hy vọng dần dần…

**

Đêm nay, tôi nhìn lên bầu trời. Một mảnh trăng tròn. Không có gì hoàn hảo hơn! Bỗng như thấy lại một vùng thơ ấu của anh em tôi. Ngày đó, với cái ước mơ trở thành phi hành gia của hai chú nhóc, anh em tôi quấn quít nhau không rời. Ba má chúng tôi có đi đâu cũng yên tâm vì hai chú nhóc biết lo cho nhau. Người ta nói anh em hoặc chị em sinh đôi (mà phải là identical twins như chúng tôi cơ!) có những ý nghĩ, những ước muốn, và cách hành động giống nhau. Có lẽ đúng thế. Mà thật lạ, càng lớn thì chúng tôi càng xa rời cái ước mơ làm phi hành gia. Cuộc sống thực tế dần dần thay đổi chúng tôi. Lên cấp ba, tức trung học đệ nhị cấp, hai anh em tôi thấy rõ ước mơ của mình là trở thành bác sĩ. Nghĩ cho cùng cũng chẳng có gì lạ. Có nhiều bạn khi còn bé thích làm cô giáo thầy giáo, suốt ngày đứng trước bảng dạy học cho mấy bé con nít hoặc cho đám búp bê, tới lớn thay đổi, lại thích làm nghề khác là thường. Và cứ thế mà tiến lên. Hai anh em chúng tôi cùng đậu vào trường Y, thế mới vui chứ! Ba má chúng tôi là những người vui nhất.

Một đêm, tôi nhớ, không trăng. Tôi không rủ ai đi cùng, một mình bơi ra biển.

Không ai hiểu tại sao. Chỉ có tôi hiểu mình muốn thay đổi hoàn cảnh mình đang sống. Tôi không nỡ bắt người anh em của tôi thay đổi theo. Và thế là tôi xa mái nhà của mình, xa ba má và người anh em của tôi.

Mỗi mùa Trung Thu về, tôi lại nhớ ray rứt những trò chơi “làm phi hành gia” của hai anh em. Hành bên đó tiếp tục học ra bác sĩ. Tôi vất vả bên này tự lực và cũng học ra bác sĩ dù chậm hơn người anh em của mình đến vài năm. Cứ như là tôi đã chọn làm một cuộc thử nghiệm vậy.

**

Năm 2015, Scott Kelly sẽ là người Mỹ đầu tiên ở trên không gian một năm. Trước đó, đã có năm người Nga sống như vậy. Nhưng đặc biệt, Scott sẽ được so sánh với Mark, ở yên trên trái đất. Cả hai anh em sẽ cung cấp mẫu máu và các mô của cơ thể mình cho giới khoa học để nghiên cứu. Các mẫu của Scott sẽ giúp xác định những biến đổi về gene, nếu có, xảy ra trong suốt thời gian sống bên ngoài trái đất. Trong điều kiện không trọng lực, những chuyển động của cơ thể sẽ gây ảnh hưởng lớn trên mắt, trên tai, trên não – điều này có thể gây mất định hướng. Đầu có thể sung huyết và mặt có thể sưng do sự tái phân bố chất dịch. Tốc độ lọc của thận sẽ tăng. Mất calcium trong xương có thể dẫn đến sạn thận. Xương và cơ sẽ yếu đi. Chân sẽ bị phù. Giảm huyết tương gây thiếu máu tạm thời khi trở về trái đất. Và cuối cùng, nguy hiểm hơn cả, đó là sự tiếp xúc lâu dài với các tia vũ trụ dẫn đến nguy cơ cao mắc các bệnh ung thư.

Bao lâu nay tôi vẫn lo rằng người anh em của tôi ở lại quê nhà, sống trong một môi trường nhiễu nhương, rồi sẽ như thế nào. Hành có biến đổi như bao nhiêu người đã biến đổi? Trong một lãnh vực mà nghề nghiệp có thể giúp người ta thăng tiến về kiến thức, về khả năng phục vụ, giữ gìn y đức, nhưng cũng có thể biến người ta trở thành kẻ chạy theo đồng tiền và danh vọng mà quên đi chức năng thiêng liêng của mình là cứu người, Hành sẽ ra sao? Lúc mới ra trường, Hành vì là thành phần không có “thân thế” nên phải vào nhóm công tác lưu động, suốt năm đi về vùng quê hay lên miền ngược. Sau lần bị lật xe, Hành bị thương, mới được về làm trong bệnh viện. Rồi một lần khác, tôi nghe nói Hành bỏ bệnh viện, sau khi lên tiếng chống lại các chức sắc trong bệnh viện vì bất bình trước sự phân biệt đối xử. Sau đó, Hành không đi làm “công chức” nữa. Nói theo cách của Hành là “bây giờ tà tà, làm quơ quào đủ sống, không vướng bận”. Ba má tôi buồn lắm. Tôi cũng buồn. Phải chi ngày ấy tôi can đảm rủ Hành cùng ra biển!…

Tôi lấy vợ. Bên nhà, Hành chưa chịu lấy vợ. Cuộc sống của tôi bên này tạm gọi là êm ả, tuy công việc bệnh viện thường không mấy dễ chịu. Nhưng đó là đặc điểm của nghề nghiệp thôi. Tôi cũng sắp xếp được để đủ thì giờ thưởng thức cuộc sống.

Người anh em của tôi bên nhà ít kể lể về cuộc sống của mình. Tôi không biết gì nhiều ngoài những chữ ngắn gọn “tạm ổn”, “OK”, “chưa chết”… mà Hành hay nói tếu. Hỏi ba má tôi, các cụ chỉ nói: “Nó nghèo lắm con ơi! Nó làm việc ở ngoại thành, đi suốt ngày, ăn mặc đơn giản, tiêu xài tiết kiệm…”

Trong một lần chat:

“Phi bảo lãnh ba má và Hành qua Mỹ sống ha!”

“Ba má nói già rồi không đi đâu, còn Hành cũng không đi.”

“Hành qua đây học thi lại lấy bằng bác sĩ.”

“Không phải vì chuyện làm bác sĩ. Hành cũng đang là bác sĩ.”

“Nhưng Hành bị thua thiệt quá!”

“Đâu có gì thua thiệt, Hành chấp nhận mà!”

“Vậy…”

“Vậy Phi về thăm nhà một lần đi!”

“Không… Phi chưa chấp chận chuyện về lại…”

Hết chat.

Tôi sợ Hành sẽ như Scott hay ai đó ở trong môi trường không trọng lực, cơ thể sẽ biến dạng, ung nhọt sẽ bùng lên. Cái xã hội mà Hành đang sống làm cho con người điên đảo, nhiễm tánh vị kỷ, có khi trở nên tàn ác với đồng loại chỉ vì lợi ích của mình. Có phải những tin tức mà tôi xem và nghe được hàng ngày làm cho tôi có tâm trạng như vậy chăng? Hay vì câu chuyện thử nghiệm trên hai anh em sinh đôi Mark và Scott Kelly làm tôi liên tưởng đến anh em mình?

**

Đêm rất khuya. Một đêm trăng khuyết. Tôi không ngủ được, ra mở máy PC, định gọi Hành, nhưng Hành đã có sẵn ở đó.

“Có cái này cho Phi coi.”

“Cái gì thế?”

“Bảo về chơi không về, thì quay cái phim này cho coi vậy.”

“Phim về cái gì?”

“Coi sẽ rõ.”

Hành gửi qua cho tôi một cái “link” YouTube. Tôi cười. Chúng tôi cũng khá biết tận dụng internet lắm chứ!

Một đoạn phim ngắn.  Cảnh quay từ xa cho thấy một con đường sạch sẽ nhưng là ở ngoại ô, ít xe cộ. Tiến đến gần, người xem thấy một cái cổng xinh xắn dẫn vào một ngôi nhà trông như một cái trạm y tế xã. Tấm biển gắn trên cửa, ghi “Trăng Thơ Ấu”.

Tôi giật mình. Trong khung chat, hiện ra câu của Hành:

“Thấy gì chưa?”

“Sao lại là Trăng Thơ Ấu?”

“Thì là trăng của Phi Hành… gia đó!”

“Có ý nghĩa gì?

“Vào trong sẽ biết.”

Tôi “vào trong”. Ôi, cả một thế giới thơ mộng mà tôi chưa từng được thấy! Những bàn ghế, kệ sách màu sắc tươi vui, các bức tường trang trí dịu dàng mát mắt, với những hình “trăng khuyết” – nói theo cách của anh em tôi – đính nhè nhẹ trên đó. Trong cái thế giới ấy, có các em bé và cả những người lớn đang chơi với nhau những trò chơi ngộ nghĩnh. Họ vẽ trên những khay cát. Có người thì đàn, có người thì hát. Có người ngồi ôm con ru ngủ. Có người yên lặng đọc sách.

“Hiểu gì chưa?” Hành hỏi.

“Sơ sơ.”

“Hi hi.”

“Nhưng sao lại là Trăng Thơ Ấu?”

“Vì đó là giai đoạn rất non nớt của trăng, tức là trăng non đấy, nhưng nói cho nó văn vẻ chút mà!”

Tôi để trống phần câu của mình.

Hành viết tiếp:

“Những đứa bé trong căn nhà này bắt đầu cuộc đời của mình bằng những nốt nhạc lạc lõng. Các em bị những chứng bệnh tâm lý. Không ai hiểu chúng, ngay cả cha mẹ của chúng. Nơi đây, mọi người được trị liệu bằng những phương pháp chuyên biệt. Nhưng điều quan trọng là mọi người học cách hiểu nhau, hàn gắn vết thương cho nhau.”

Tôi lại chừa trống.

Hành viết tiếp:

“Tất cả chi phí hoạt động của cái “club” này đều do anh chị em tự lực, cộng thêm sự giúp đỡ của các “mạnh thường quân” khắp nơi. Coi như một cái “nhà trẻ” cũng được, nhưng “người giữ trẻ” toàn là bác sĩ. Hi hi.”

Tôi thở ra, nghe nhẹ người. Bên kia Hành giục:

“Viết gì đi chứ!”

“Phi vui lắm!”

“Vui sao?”

“Vui là vui quá vui.”

“Hi hi.”

“… vì mình còn giữ mãi vầng trăng hồi còn nhỏ của tụi mình.”

“Ừa, hồi đó… hai đứa mơ làm phi hành gia há!”

“Ừa.”

Tôi mỉm cười. Người anh em của tôi bên nhà sẽ không thấy tôi cười, và cũng không biết được tôi đang nghĩ gì đâu! Cuộc “thử nghiệm” không tùy ý của chúng tôi sau gần ba mươi năm đã có kết quả. Cái “môi trường không trọng lực ấy” không ảnh hưởng gì đến cái “gene” trong người anh em sinh đôi của tôi.

Tháng Tám, 2013

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 

 

 

 

 


alt

alt

 

 

 

Giữa dòng đời tấp nập, một em bé tội nghiệp, thân hình gầy gò, áo quần rách rưới nằm chỏng chơ trên đường phố, cầm trên tay chiếc lồng đèn trung thu hình con thiên nga đã hỏng, gãy mất một cánh, ngắm nghía rất chăm chú…

**

Một bức ảnh được tung lên internet, làm cơn xúc động ùa đến trong những trái tim người. Em nghĩ gì trong giấc mơ giữa ban ngày của em? Một mẩu bánh nướng thơm phức, một chiếc lồng đèn mới toanh, một mái nhà đầm ấm, hay một lớp học với em và các bạn quần áo chỉnh tề??? Người qua kẻ lại, xe cộ ngược xuôi, có ai thấy em bên vệ đường? Có khi nào trong giấc mơ ban ngày của em, em thấy mình được lên cung trăng? Xu thoát khỏi trang web có hình em bé đó, thở dài. Vậy mà… Xu có đấy! Xu là một người từ nhỏ đã có trong đầu một thế giới mộng mơ. Cô bé không là “con người khoa học” quá đâu! Cô bé  không giỏi về vật lý học, chỉ đủ điểm để không phải thi lại. Nhà đông anh em, Xu là con giữa. Con giữa thì sung sướng vì không phải làm việc nhiều, bởi việc gì nặng nhọc thì đã có anh chị lớn lo. Nhưng con giữa thì lại rất hay “bày trò” vì sau mình còn một lô em. Vâng, Xu rất hay “bày trò”. Chẳng qua là cô bé giàu tưởng tượng, lúc nào cũng vẽ ra một thế giới ảo để mình vui và lôi kéo bầy em vào cùng. Coi vậy mà các em cũng thích lắm. Bởi vì có sự “bày trò” của Xu, các em lại có dịp ăn những món ăn lạ lùng, chơi những trò chơi ngộ nghĩnh, và nhất là được nghe Xu kể chuyện. Về mục này thì không có gì khó khăn cả. Xu tiếp nhận những câu chuyện cổ tích từ bà ngoại. Bà ngoại là một cái kho “chuyện đời xưa”. Và Xu cứ sao chép “nguyên xi” những câu chuyện bà ngoại kể là có thể tạo ra những buổi “diễn thuyết” cho bọn nhóc nghe đến mê tít rồi. Bà ngoại dần dần già yếu. Xu thay bà kể chuyện cho các em nghe. Thôi thì đủ loại, từ Tấm Cám, Thằng bé sọ dừa, Ăn khế trả vàng, Trầu cau… cho đến một lô chuyện gọi là “sự tích”. Không biết ai đã sáng tác ra chữ “sự tích” nghe rất hay. Ý nghĩa của nó là nguồn gốc, nguyên cớ nào mà có một đồ vật, một loài hoa, một loại cây, hay những loài muông thú. Nào là sự tích trái thơm, sự tích bánh chưng bánh dầy, sự tích con muỗi, sự tích con thạch sùng v.v… Và mùa Trung Thu thì có chuyện chú Cuội cây đa. Thuở nhỏ Xu đã thấy sự mâu thuẫn trong chuyện chú Cuội cây đa mà hỏi không ai giải đáp. Số là bà ngoại kể chú Cuội một hôm nọ đi vào rừng, nấp thấy mấy con cọp con bị người ta làm cho bị thương, rồi cọp mẹ nhai một nắm lá đắp vào cho các con, vết thương đã lành mau chóng. Cuội bứng cái cây đó về trồng và gọi đó là cây đa. Cây đa giúp Cuội chữa lành bệnh cho nhiều người, ai cũng quý mến Cuội. Trong số đó có một cô gái sau khi được Cuội cứu sống đã kết duyên cùng Cuội. Một hôm vợ của Cuội vô tình … đi tiểu nơi gốc cây đa, làm cây đa tức giận bật gốc bay lên. Cuội đi về, thấy vậy tiếc cây đa bèn nắm chặt rễ cây đa và như vậy là phải bay cùng với cây. Cây đa bay mãi, bay mãi, lên tận cung trăng. Từ đó Cuội “ôm một mối mơ” ngồi một mình trên cung trăng nhìn xuống trái đất, Cuội buồn vì chẳng bao giờ có thể về lại với loài người.

Rõ ràng là phải ở trên cung trăng hoang vắng rồi thì Cuội mới ngồi gốc cây đa, cô độc cho đến khi trở thành “Cuội già”. Vậy mà lại có câu đồng dao:

“Thằng Cuội ngồi gốc cây đa

Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ơi ời

Cha còn cắt cỏ trên trời

Mẹ còn đánh trống đi mời quan viên”

Xu không hiểu ra sao nữa… Thôi kệ, chuyện thì cứ kể, ca dao thì vẫn cứ thuộc. Hình như sự dễ dãi đã là một nét rất đáng yêu của người Việt Nam. Không hại gì ai.

Nhưng hình như càng lớn, Xu càng khó tính. Xu muốn cái gì cũng phải hoàn toàn, cũng phải thật. Chuyện kể cho con nít nghe lại càng phải thật. Mỗi mùa Trung Thu đi qua, Xu lại càng muốn có một cái gì mới mẻ cho các em.

Cho đến một ngày, cô bé Xu reo lên trước một tin rất hấp dẫn. Anh Cả “dịch” lại đó là những con người địa cầu đầu tiên theo phi thuyền Apollo 11 lên đến mặt trăng. Mọi người dán mắt nhìn lên màn ảnh ti-vi đen trắng. Xu hồi hộp. Xem kìa, những bước chân của con người đang đi trên mặt đất của cung trăng! Ở một nơi mà trọng lực chỉ bằng một phần sáu trọng lực trên trái đất, bước chân của họ trông mới “ngộ” làm sao! Họ đi khệnh khạng, có vẻ như thân mình nhẹ quá nên họ cứ như bơi trong nước. Xu nghe trong lòng có một niềm cảm động. Ôi! Những bước chân “chập chững” của con người, là cả một quá trình gian khổ của khoa học. Các em cũng trố mắt ra nhìn. Lũ nhóc lao nhao:

-         Thế chú Cuội ngồi gốc cây đa đâu anh?

Anh Cả trịnh trọng, ra vẻ con nhà khoa học gớm, và nói:

-         Làm gì có chú Cuội! Chỉ toàn là đá thôi! Cũng không có sự sống nữa.

Lũ nhóc “ồ” lên. Có đứa tiu nghỉu. Còn cô bé Xu hay “bày trò” lại càng tiu nghỉu hơn. Thôi thế là hỏng hết công lao! Cả một thế giới thần tiên có cơ sụp đổ. Không có không khí, không có nước, chú Cuội làm sao sống?

Thế nhưng cô bé Xu không phải là người dễ đầu hàng. Cô bé đã lái câu chuyện mặt trăng qua một “đề tài khoa học”. Chà, nghe có vẻ “trí thức” ghê! Đề tài khoa học! Mà thật thế, Xu bảo bọn nhóc em mình ngồi chung quanh, rồi dẫn giải chuyện các phi hành gia của phi thuyền Apollo 11 bước những bước chân đầu tiên lên đất mặt trăng như thế nào và tại sao…  Lúc này là lúc cô bé mang hết kiến thức tiểu học và trung học của mình ra để nói cho bọn nhóc hiểu. Xu chẳng đã là cô giáo của những lớp học “ảo” đó sao? Và thế là có một buổi diễn thuyết không kém tưng bừng. Anh Cả và chị Hai cũng phải lắc đầu chào thua cô bé và lặng lẽ “rút lui có trật tự”.

**

Thật tình Xu là cô bé thích “bày trò” cho nên không lúc nào không suy nghĩ. Mà đã suy nghĩ thì phải làm. Bao nhiêu năm tháng đi qua, Xu vẫn thích mỗi mùa Trung Thu lại xếp thật nhiều lồng đèn. Làm lồng đèn có khung tre thì hơi khó và mất thời gian, chứ làm lồng đèn xếp thì dễ lắm. Xu biết xếp lồng đèn hình trụ kéo lên hạ xuống như chiếc đàn phong cầm gọi là đèn xếp, rồi lồng đèn chữ V, khi giăng ra sẽ thành quả trám, rồi lồng đèn trái bí v.v… Nói chung là theo cùng một nguyên tắc: xếp quạt giấy. Những kiểu đèn xếp như vậy, ở những nơi sản xuất người ta dùng máy để nhún, còn Xu thì nhún bằng tay. Làm xong một lô đèn thì móng tay cùn đi rất nhiều. Nhưng kệ, làm thì vui. Xu cho các em của mình chơi, và còn mang đi cho các bé ở cô nhi viện nữa. Cứ như thế, cô bé Xu hầu như không biết mình lớn lên. Đến cái tuổi các em mình không còn thích chơi lồng đèn nữa, mỗi Trung Thu Xu vẫn xếp đèn đem đến cô nhi viện, vẫn thích mua một lô đèn cầy và thắp đầy bậu cửa sổ, ngồi ngắm đèn, trông trăng cho đến khuya.

Sự thật về mặt trăng đã rõ ràng từ năm 1969, lúc con người lần đầu tiên đặt chân lên đó. Nhưng vẫn còn tục lệ chơi lồng đèn, cũng như tập quán ăn bánh nướng, bánh dẻo. Chẳng bao giờ người ta nói: “Thôi, hãy ngưng những thứ đó đi!” Vì lý do thương mại ư? Cũng có đấy! Nhưng một phần cũng vì nó đã thành cái nề nếp đáng yêu. Bởi vì dù là một nơi hoang vu không có sự sống, mặt trăng đối với người đứng trên trái đất vẫn là một vật thể gần gũi, thân thương. Khi lớn lên, đi xa nhà, cái cảm nghĩ gần gũi với mặt trăng lại càng sâu đậm. Cùng nhìn một vầng trăng, là người ta cảm thấy các miền địa đầu đều gần lại. Và con người, Đông cũng như Tây, vẫn còn say mê những câu chuyện cổ tích dù biết nó là không thật. Vâng, những chuyện cổ tích không bao giờ lỗi thời.

**

Những dịp Tết Trung Thu tham gia với cộng đồng Việt, Xu vẫn thấy những chiếc lồng đèn truyền thống được phát cho các em thiếu nhi. Đèn xếp, đèn ông sao, đèn cá chép, đèn chiếc tàu, đèn con bướm, đèn con thỏ… hơi cổ điển một chút, nhưng vẫn đáng yêu hơn những chiếc đèn “hiện đại hóa” làm từ Trung Quốc.

Một lần đi đến Viện Bảo tàng Không gian ở Washington D.C., Xu đứng ngắm mãi mẩu đá mặt trăng được Apollo 17 mang về. Xu nhớ câu “Trăng bao nhiêu tuổi trăng già?” và ngẫm nghĩ trăng đã hơn bốn tỉ tuổi, đá mặt trăng đem về trái đất phải được tồn trữ trong nitrogen, không ai được đụng trực tiếp tới đá mặt trăng mà phải cần tới những dụng cụ đặc biệt, Xu chợt thấy có những cái thật gần mà cũng quá xa. Cuộc sống cũng như thế!

Có những ước mơ tầm thường trong đời sống mà mãi không thực hiện được, và mặc nhiên những điều đó lại biến thành xa vời hơn cả chuyện cổ tích. Ở một thời đại mà những chiếc lồng đèn đã được “hiện đại hóa” thành những chiếc đèn tự động, biết chớp tắt, biết phát sáng mà không cần thắp nến, lại còn biết phát ra nhạc…, vẫn còn có những em bé mơ một chiếc đèn lành lặn mà không có, cũng như mơ có một mái nhà và những bữa cơm gia đình đơn sơ mà không được, thì câu hỏi “Em có mơ thấy mình lên cung trăng không?” chắc là ngô nghê lắm! Không, hiện tại em đang sống giữa dòng đời xuôi ngược, chen chúc trong những quán ăn đông nghẹt người. Tiệm đông khách, em mừng hơn cả chủ tiệm vui mừng. Vì khi những thực khách đứng dậy với vẻ mặt no nê thỏa mãn, thì em, và các bạn em, chạy nhanh đến, mỗi đứa bưng lấy một tô, húp lấy húp để phần thức ăn thừa. Sau đó các em cũng có được nét mặt no nê, thỏa mãn, một cách rất tội nghiệp. Rồi em và các bạn em sẽ trở về “nhà” của các em, là những bãi rác, những chân cầu, những xóm nghèo lầy lội...

Một người bạn của Xu còn ở Việt Nam, kể cho Xu nghe rằng Trung Thu năm nay bạn đi phát quà cho trẻ em nghèo, người ta cho bánh nướng bánh dẻo nhưng không cho lồng đèn. Bạn buồn. Bạn nói cuộc sống đi dần vào chuyện ăn uống mà bỏ hết những phần thơ mộng. Ai còn nghĩ đến chuyện thơ mộng, sẽ bị gọi là “người cõi trên”, là “E.T.”, tức người ngoài hành tinh.

Nửa tháng trước đêm Trung Thu năm nay, Xu rưng rưng theo dõi hình ảnh buổi lễ thủy táng phi hành gia Neil Armstrong, người đầu tiên của trái đất bước chân lên mặt trăng, thần tượng của tuổi thơ Xu. Xu nói với ông:

- Ông ơi! Phi hành gia chinh phục được không gian, đến được quê hương của chị Hằng chú Cuội, có chinh phục được nỗi đau của con người???

Xu nghe ông trả lời trong khi tro của ông được rải trên mặt biển:

- Bé Xu ơi! Hãy nhìn lên mặt trăng. Tất cả câu trả lời ở trên đó. “Người cõi trên” hay E.T. là những người có thể biến ước mơ thành sự thật. Hãy cứ ước mơ!

Cám ơn ông, ông phi hành gia, và cám ơn tất cả các phi hành gia. Ngày xưa có lúc Xu giận các ông lắm, vì các ông đã làm cho cả một thế giới thần tiên của Xu và các em bị sụp đổ. Nhưng không, cho đến bây giờ, con người vẫn gần gũi với trăng, thậm chí còn tìm hiểu về trăng nhiều hơn nữa. Các nhà khoa học còn cho biết rằng những khi có “super moon”, trăng sẽ to khác thường nếu trăng chiếu rọi qua những vật ở cận cảnh, như cây cối, nhà cửa… Đó là “ảo ảnh trăng”. Là ước mơ. Nhưng là thật.

Em bé nằm giữa phố đông người không mơ trăng, nhưng em đang cầm chiếc lồng đèn rách. Em ơi! Bao giờ còn lồng đèn, chúng mình vẫn còn mơ mộng. Đó chính là ước mơ trả lại sự hồn nhiên cho tuổi thơ em.

Trung Thu 2012

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

 

 

 

 

 

Phút giây chờ đợi đến rồi,
Bầy em bé cứ đứng ngồi không yên.
Kia rồi ! Từ chốn thần tiên
Trăng tròn vành vạnh nhô lên... mái nhà
Rung rinh sau ngọn tre già
Miệng cười hớn hở như là trẻ thơ
Đã qua giây phút đợi chờ
Mà bầy em bé còn ngơ ngẩn nhìn
- Chao ôi ! Trăng thật là xinh
Mau mau đến với chúng mình trăng ơi!
Tiếng reo dậy một góc trời
Nói sao cho hết niềm vui dạt dào...
Thế rồi bé trước lớn sau
Kéo nhau ra ngõ với bao nến đèn
Và bao câu hát tưng bừng
Mừng trăng quá bước đêm rằm trung thu.

Đèn Biển

tuoihoa.hatnang.com

 

 

 

 

alt


* Lời nói đầu:

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh cảm tác từ lời của phi hành gia Buzz Aldrin nói vào ngày 20 tháng 7 năm 2009, kỷ niệm 40 năm ngày Apollo 11 lên mặt trăng:

"…For me, the most difficult part of the mission wasn't what happened during the flight but what happened after we came home. Without a new mission to train for, I felt lost and without a purpose. My personal life was marked by deep depression and bouts of drinking. Nothing I did seemed to have meaning or motivation for me.
I left the Air Force, the space program, and was adrift. But then, as I began to recover my bearings, something wonderful happened. I met a woman, Lois Driggs Cannon, who helped me to climb out of my depression and see a role for me in space -- but this time while on Earth…"

1

Ngày 20 tháng 7 năm 1969

Bé Xíu loay hoay với một xấp giấy hoa. Cô bé đang chọn xem loại nào thích hợp để làm một chiếc lồng đèn. Đây là lần đầu tiên Bé Xíu muốn tự tay làm lồng đèn. Nhưng không phải để chơi, mà là để dự cuộc thi làm lồng đèn do trường tổ chức. Chỉ là một cuộc thi nhỏ, nhưng cô giáo lớp Ba muốn các học trò có được tính sáng tạo trong những sinh hoạt thường ngày. Thật ra thì Trung Thu không phải là điều “thường” đối với Bé Xíu cũng như với các bạn, bởi mỗi năm mới có một lần. Còn khoảng hai tháng nữa mới đến Trung Thu, nhưng Bé Xíu và các bạn cảm thấy náo nức lắm. Thôi thì… nào là giấy bóng, giấy hoa, nào là dây kẽm, nan tre, chỉ nhợ, keo hồ… Bọn con trai thì bàn tán làm lồng đèn xe tăng, tàu thủy, máy bay…. Bọn con gái thì bàn tán làm lồng đèn quả trám, đèn cái trống, đèn trái bí, đèn con bướm, con cá… Ngày nào trong giờ ra chơi cả lớp cũng nhộn nhịp tưng bừng, cô giáo cũng vui lây. Đương nhiên cô phải là người đầu tiên hướng dẫn cho các học trò cách làm từng loại lồng đèn. Nhưng phần lớn công việc ấy được làm ở nhà, nên cha mẹ hoặc anh chị của các em lại giữ phần quan trọng.

Bé Xíu không có anh chị. Cô bé là con lớn trong nhà và có một đứa em bốn tuổi. Em bốn tuổi thì chẳng giúp ích gì được cho mình rồi. Bé Xíu tự an ủi “Mình là chị Hai mà!”… và tẩn mẩn ngồi làm một mình. Ba bận đi làm, má có giúp một chút nhưng má cũng bận rộn công việc nhà nên Bé Xíu không dám quấy rầy ba má nhiều. Bé Xíu nhớ lại cách thức mà cô giáo dạy chung cho cả lớp. Bé Xíu không làm lồng đèn với nan tre mà chỉ dùng giấy hoa và dây kẽm. Bé Xíu muốn làm lồng đèn quả trám. Không hiểu sao, cô bé thích hình ảnh một cái mặt trăng hơn là những hình thể khác. Vì Trung Thu là mùa của trăng tròn mà! Cô bé tưởng tượng đến khi chiếc lồng đèn hoàn thành, treo lên cành cây trước nhà. Chà! Chắc là đẹp lắm, sẽ không thua gì mặt trăng đêm rằm Trung Thu.

Nhưng Bé Xíu đã phải ngừng tay một chút vì ba má gọi Bé Xíu đến xem ti-vi. Ba bảo:
- Xem này, Bé Xíu! Mấy phi hành gia Hoa Kỳ đã lên đến mặt trăng rồi!
Bé Xíu ngồi dán mắt vào màn hình của chiếc ti-vi nhỏ. Khi bức ảnh của ba phi hành gia được chiếu lên, Bé Xíu kéo chiếc ghế nhựa nhỏ lại gần hơn nữa. Rồi thì cảnh chiếu chiếc nguyệt xa đậu trên mặt đất cung trăng và những bước chân lướt như múa của vị phi hành gia làm cho cô bé chú ý nhiều hơn. Ba giải thích:
- Bé Xíu thấy hai người đang ở trên mặt trăng không? Họ đi trông nhẹ nhàng như vậy là vì ở trên mặt trăng mọi vật chỉ nặng bằng một phần sáu sức nặng bình thường mà thôi. Còn một người nữa thì đang bay trên phi thuyền. Cái máy tròn tròn có những cái chân cao như chân nhện đó gọi là chiếc nguyệt xa.
Ba quay sang nói với má:
- Con người thật là giỏi, phải không?
Má gật đầu:
- Con người nhỏ bé nhưng thật giỏi. Bây giờ người ta đã biết nhiều về mặt trăng rồi!
Ba thở dài:
- Nhưng những câu chuyện thần thoại về mặt trăng sẽ không còn ý nghĩa khi kể cho trẻ con nghe nữa.
- Phải đấy!
Rồi má cũng nhè nhẹ thở dài. Hình như ba má có một vẻ gì như là tiếc rẻ. Mà Bé Xíu cũng thấy có một cảm giác là lạ. Cũng là tiếc rẻ sao? Ồ, Bé Xíu mới tám tuổi. Bé Xíu bắt đầu để ý đến những chuyện kể về cung trăng không lâu. Lúc còn bà ngoại, bà hay kể chuyện cổ tích cho Bé Xíu nghe, trong đó có chuyện chú Cuội, chị Hằng, cây đa, thỏ ngọc… Bà ngoại mất đi, Bé Xíu có được một kho chuyện cổ tích, mai mốt lại kể cho em của mình nghe được rồi. Nhưng khi nghe ba giải thích lại, Bé Xíu hiểu rằng trên cung trăng không có gì ngoài những vùng như núi non và hố trũng. Không có cây xanh, không có biển cả hay sông ngòi. Ôi, một nơi lạnh lẽo và hoang vắng, làm sao có sinh vật? Thế thì chú Cuội cũng không mà chị Hằng cũng mất. Bé Xíu ngơ ngác một chút. Và khi chương trình truyền hình chấm dứt, Bé Xíu thơ thẩn ra ngoài sân, ngồi buồn một mình.

Văng vẳng có tiếng hát bên nhà hàng xóm:
- “Bầy trẻ thăm hỏi cung trăng, chú Cuội đâu vắng cô Hằng đâu xa, ố tang tình tang, ố tang tình tình… Động lòng thương trẻ bơ vơ, đàn chim nhỏ bé bay vô trả lời, ố tang tình tang, ố tang tình tình…… Từ ngày có vệ tinh bay, bay có ba ngày lên tới mặt trăng, ố tang tình tang, ố tang tình tình… Cuội đành đem chị Hằng Nga tìm xứ xây nhà không biết ở đâu…” (*)
Bé Xíu nhìn lên trời. Đêm nay mới mồng bảy tháng sáu âm lịch, chưa thấy trăng tròn. Nhưng bầu trời bao la khiến Bé Xíu có một chút bâng khuâng. Cô bé nghĩ đến chững câu chuyện cổ tích bà ngoại kể, chợt bật cười khi tưởng tượng bà ngoại sẽ “bí” khi Bé Xíu hỏi bà về nơi ở của chị Hằng và chú Cuội. Ồ! Nhưng dù sao bà ngoại hay má cũng đã chưa từng bị ngỡ ngàng như Bé Xíu bây giờ.

Ba đứng sau lưng Bé Xíu tự lúc nào. Bé Xíu hơi giật mình khi nghe giọng của ba cất lên:
- Bé Xíu làm gì đó? Sao con không vào học bài?
Bé Xíu quay lại, lắc đầu:
- Không ba ơi! Tối nay con phải làm xong cái lồng đèn.
- Để ba giúp con.
- Thật hả ba?
- Thật chứ, ai nỡ để con gái cưng của ba loay hoay một mình. Con muốn làm lồng đèn hình gì nào?
- Con muốn làm hình quả trám.
- Dễ thôi, cha con mình cùng làm nhé! Trước tiên, con hãy xếp tờ giấy làm đôi theo chiều dài, rồi xếp như xếp quạt vậy, xong rồi banh ra từ từ, tạo thành góc nhọn thế này.
Bé Xíu vừa làm theo lời ba chỉ dẫn, vừa tỏ ý khâm phục:
- Hay quá! Con làm được dễ dàng.
- Ấy, banh nhè nhẹ kẻo nó toác ra. Như vậy được rồi! Để ba chỉ con cách cắt giấy bìa dán hai mặt nhé! Đưa kim chỉ đây, ba chỉ cho con may hai đầu lại, nhưng đừng may chặt quá, mở ra sẽ cong queo…
Bé Xíu ngắt lời ba:
- Ủa, mà sao ba giỏi vậy hở ba?
Ba cười:
- Giỏi gì đâu? Ba sinh ra là con nhà nghèo, đâu có đủ tiền mua đồ chơi. Cái gì ba cũng học cách để tự làm lấy.
- Con cũng thích tự làm lấy.
- Không tự làm lấy cũng không được, làm sao mà dự thi? Chẳng lẽ đi mua ở tiệm rồi mang dự thi sao cô nương?
Bé Xíu cười bẽn lẽn:
- Đúng rồi ba! Cô giáo bảo phải có sự sáng tạo mới được dự thi.
- Ừ. Nè tiếp tục đi con! Tới phần đính hai cái quai bằng dây kẽm vào, phải khéo tay một chút không thôi rách. Cuối cùng là xoắn đoạn dây kẽm này lại như hình lò xo để gắn đèn cầy… Rồi, xong!
Ba như không nhớ gì đến đoạn phim thời sự vừa qua. Bé Xíu cũng lăng xăng chìm vào công việc…

***

Ngôi trường tiểu học mấy hôm nay vui như Tết. Cuộc thi làm lồng đèn đã kết thúc. Vui nhất là những ngày các học sinh đem lồng đèn vào lớp, khoe nhau, tranh cãi, phê bình, và… giận nhau nữa. Bạn nào cũng muốn đèn của mình là chiếc đẹp nhất. Cô giáo phải giảng hòa rồi sau đó nộp đèn lên cho nhà trường.

Một tuần trôi qua, đã đến ngày có kết quả. Và, Bé Xíu không thể ngờ, chiếc lồng đèn của cô bé chiếm hạng nhì, sau chiếc đèn hình máy bay của một bạn trai “đàn anh” học lớp Nhất (**). Vài bạn khác lãnh giải ba và đồng hạng giải tư. Dĩ nhiên bên cạnh hình dáng đẹp, cắt dán khéo, lại còn phải nói lên ý nghĩa nào đó nữa. Cuộc thi có một phần lấy từ sáng kiến của thầy dạy lớp Nhất, đó là mỗi học trò dự thi phải nộp một đoạn ngắn gồm vài câu giải thích về chiếc đèn do mình làm ra. Và bài của Bé Xíu là như sau:
- “Kính thưa Ban Tổ Chức cuộc thi làm lồng đèn Trung Thu! Em thích làm một chiếc lồng đèn hình quả trám vì nó nói lên hình ảnh của mặt trăng, và mặt trăng này luôn luôn dễ thương trong lòng của em. Em cũng muốn chiếc đèn này nói lên tình thương của em dành cho ba má em, cho em của em, cho cô giáo em và cho nhà trường, cùng các bạn của em”.
Và bởi vì còn có một câu hỏi mà người dự thi phải trả lời: “Em muốn tặng chiếc lồng đèn của em cho ai?” nên Bé Xíu cũng viết câu sau đây:
- “Nếu có thể được, em xin quý thầy cô gửi tặng dùm chiếc lồng đèn này cho các phi hành gia đã đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng vào ngày hai mươi tháng bảy năm nay”.
Khi thầy hiệu trưởng đọc bài viết ngắn của Bé Xíu đến câu cuối, mọi người đều “ồ” lên và xôn xao bàn tán. Nhưng thầy hiệu trưởng ôn tồn nói:
- Đây là một điều ước muốn rất chân thành. Thầy hứa sẽ giúp em.
Khi Bé Xíu trở về lớp, nghe các bạn xì xầm về mình rất nhiều. Nhưng Bé Xíu thấy trong lòng vui lắm. Bé Xíu sẽ khoe ba má ngay khi về đến nhà.

***

Ngày tháng dần qua, nhưng Bé Xíu cũng không quên điều ước muốn của mình. Sau cuộc thi, đôi lần Bé Xíu gặp thầy hiệu trưởng trước văn phòng, thầy có nhắc lại và bảo rằng đã chuyển chiếc lồng đèn của cô bé đến một hội “có liên lạc được với các phi hành gia”. Sau đó không bao giờ thầy nhắc đến nữa. Bé Xíu cũng đâu có nhiều dịp để gặp thầy hiệu trưởng. Còn cô giáo lớp Ba của Bé Xíu thì không nhắc đến, có lẽ cô không muốn Bé Xíu thất vọng. Các bạn trong lớp – và cả các bạn khác lớp cũng hay xì xầm – nhưng ít thôi - mỗi khi gặp Bé Xíu. Chẳng biết họ xì xầm cái gì. Bé Xíu không thắc mắc lắm đâu! Cô bé chăm học, chăm làm, nhiều việc khác còn thú vị hơn.

Chuyện “liên lạc với các phi hành gia” chắc còn khó hơn nói chuyện với chú Cuội chị Hằng. Mỗi lần trăng tròn, Bé Xíu lại nhớ đến chiếc lồng đèn đó một chút, rồi mau chóng cất vào trong ký ức.

 

2

 

Ngày 20 tháng 7 năm 2009

Ông A. (xin lỗi quý độc giả, chúng ta hãy tạm gọi ông là ông A. nhé!) đã trình bày xong bài nói chuyện trước các hệ thống truyền thông. Ông cũng đã trả lời xong câu hỏi của các phóng viên. Nét mặt của ông thật thoải mái, mặc dù năm nay ông đã gần tám mươi tuổi rồi. Nhưng mọi người đều tìm thấy những dấu vết của quãng đời khi ông còn là một thanh niên đầy nhiệt huyết, một phi hành gia, một trong ba người đã đi trên chiếc phi thuyền đến thám hiểm cung trăng lần đầu tiên – những con người đầu tiên từ mặt đất, đi đến thăm quê hương của chị Hằng. Một bước chân thật ngắn của họ là một bước tiến lớn của nhân loại. Mỗi năm đến ngày kỷ niệm chuyến đi lịch sử ấy, câu nói này lại được mọi người nhắc đến.

Cuối buổi họp, ông A. bỗng đứng lại trước máy vi âm, và cất tiếng:
- Xin phép quý vị cho tôi có thêm vài lời. Hôm nay, sau bốn mươi năm, tôi muốn được, qua phương tiện truyền thông, nhắn lời cám ơn một em bé gái. Vâng, một em bé gái người Việt Nam, bốn mươi năm trước em đã gửi tặng chúng tôi một chiếc lồng đèn bằng giấy do tự tay em làm. Tôi chỉ biết được như thế thôi, ngoài ra tôi không có cách nào để liên lạc với em cả, bởi chiếc lồng đèn này đến tay chúng tôi lẫn trong một núi quà và thiệp chúc mừng. Tôi chỉ biết em là một học sinh nhỏ tuổi Việt Nam, và là một bé gái, qua dòng chữ em ghi tên trên chiếc đèn. Tôi mong rằng, ngày hôm nay, em vẫn còn hiện diện trên trái đất này, và có thể nghe được lời cám ơn của tôi, thay mặt cho các bạn đồng hành của tôi trên chuyến bay đó.
Cử tọa bỗng như lặng đi một lát. Giọng nói của ông A. nghe như một cung đàn chùng.

Buổi họp tàn. Ông A. chuẩn bị ra về. Nhưng chợt xuất hiện trước mắt ông, một người phụ nữ. Người ấy mang dáng dấp của một cô bé dịu dàng pha một chút tinh nghịch, đang mở to đôi mắt đen như hạt dẻ và cất lời:
- Thưa ông A., cháu rất vui được gặp ông ạ!
- Cô là…?
- Thưa ông, cháu là cô học trò nhỏ đã gửi tặng ông chiếc lồng đèn bốn mươi năm trước đấy ạ!
- Chúa ơi! Là cô đấy sao? Tôi thật không tin là …
- Cháu cũng không tin, thưa ông! Bốn mươi năm qua cháu luôn tự nói vui với chính mình rằng gặp được phi hành gia còn khó hơn nói chuyện với chú Cuội và chị Hằng. Ồ, mà ông có biết chú Cuội, chị Hằng là ai không?
Ông A. lộ vẻ cảm động lắm. Ông gật đầu lia lịa, nói:
- Có, tôi có biết chứ! Tôi đọc và tìm hiểu những truyền thuyết về mặt trăng ở khắp nơi. Tôi biết trẻ em Việt Nam rất yêu mến cung trăng, xem đó như nơi trú ngụ của một nàng tiên rất đẹp và một anh chàng hay nói dối nhưng cũng rất giàu lòng nhân ái. Người Việt Nam giàu tưởng tượng quá, và rất mơ mộng. Tôi có lần đã nhìn lên mặt trăng và thấy như có hình bóng của một cây đa to ở trên ấy. Dĩ nhiên là tôi đứng từ trái đất như lúc này đây.
- Ô! Ông hay quá! Đúng đấy ông ạ.
Ông A. băn khoăn:
- Nhiều lúc tôi tự hỏi: không hiểu những hình ảnh gửi về trái đất cho mọi người thấy sự thật về mặt trăng có làm cho các trẻ em buồn vì không còn tin được vào những chuyện thần thoại hay không.
Bé Xíu – vâng, chính là Bé Xíu – nói ngay:
- Thưa ông, cháu có thể trả lời ông ngay, hy vọng điều cháu nghĩ là đúng. Sau bốn mươi năm, cháu có thể nói rằng, cho dù trẻ em không tin tuyệt đối vào những câu chuyện thần thoại, nhưng qua nhiều năm tháng, những mẩu chuyện đó vẫn được lưu truyền, và vẫn được nhắc đến hằng năm. Trẻ con Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới vẫn chơi lồng đèn, vẫn ăn bánh trung thu; và người lớn vẫn thích kể cho con em mình nghe chuyện chú Cuội chị Hằng.
- Ô! Thế sao?
- Vâng, và một hôm cháu nói chuyện với một em bé mười tuổi, người bản xứ tại đây, em cũng kể được chuyện sự tích trăng tròn trăng khuyết theo truyền thuyết của thổ dân ở Hoa Kỳ. Em bảo mẹ của em kể cho em nghe, và em rất thích câu chuyện ấy…
- Câu chuyện bà lão ngồi trên cung trăng đan chiếc rổ ư?
- Dạ vâng. Mỗi khi bà lão đan xong chiếc rổ thì đó là lúc trăng tròn, nhưng con mèo của bà nhân lúc bà bận khuấy nồi bắp hầm thì nó lại tháo cái rổ của bà ra, nên chúng ta có những đêm trăng khuyết. Nó tháo mãi cho đến khi cái rổ mất đi, và chúng ta có đêm không trăng. Và bà lão lại bắt đầu đan một cái rổ mới…
Ông A. nói to:
- Ôi! Thật là thú vị! Trẻ em vẫn còn thích nghe những chuyện đó ư? Sao… cô biết?
- Dạ, ông ơi, cháu đang đi dạy học các lớp tiểu học, và… và cháu phụ trách một chương trình nói chuyện với các bé thiếu nhi trên radio. Các em vẫn thích nghe kể chuyện thưa ông, mặc dù các em dư biết đó là những chuyện tưởng tượng.
- Tôi hiểu rồi! Tôi hiểu rồi!
Bé Xíu hân hoan:
- Và những chương trình giải trí dành cho trẻ em vẫn không mất đi tính thơ mộng. Người ta sẵn lòng nghe câu mở đầu rất dễ thương: “Ngày xửa ngày xưa….”, cũng như câu mở đầu quen thuộc “Once upon a time…” vậy, thưa ông.
Đôi mắt của ông A. long lanh như có ngấn lệ. Ông nắm chặt bàn tay của người phụ nữ mà ông nghĩ qua nhiều năm tháng vẫn dễ thương như một bé gái tám tuổi. Ông nói:
- Cuộc gặp gỡ với cô ngày hôm nay thật tuyệt. Bốn mươi năm qua, tôi thỉnh thoảng đem chiếc lồng đèn cô tặng ra ngắm nhìn và suy nghĩ nhiều. Tôi nghĩ trên trái đất của chúng ta thật vẫn còn nhiều điều chưa được khám phá, nói chi là khám phá mặt trăng. Cô biết không, có lúc tôi đã rơi vào sự trầm cảm, vì tôi nhận ra phần khó khăn nhất của sứ mạng mà mình phải thực hiện không phải là những gì xảy ra trên các chuyến bay đi vào vũ trụ, mà là những điều xảy ra khi chúng tôi trở về nhà. Cũng may, nhờ có những người thân, chúng ta sẽ thoát ra khỏi tâm trạng ấy và tìm thấy chỗ đứng của mình trong cuộc đời này, trên mặt đất này.
Bé Xíu rưng rưng cảm động:
- Ông … như là một văn sĩ…
Ông A. cười khoan khoái:
- Phải, văn sĩ từ cung trăng. Cám ơn cô bé, cám ơn chiếc lồng đèn bốn mươi năm.
- Cháu cám ơn ông, ông phi hành gia!

Trung Thu 2009

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

vietbao.com

tuoihoa.hatnang.com

 


Chú thích của tác giả:

(*): Trích bài hát “Một đàn chim nhỏ” – Phạm Duy
(**): lớp Năm

 

 

 

 

alt

Mảnh giấy nhỏ đã đầy đặc những hình vẽ. Tiến bỏ cây viết xuống bàn, ngắm nghía. Tôi cũng ngừng tay viết, hỏi:
- Vẽ cái gì đó Tiến?
Hình như thằng bé không nghe gì. Tôi nhìn vào mảnh giấy: chỉ toàn là đồi núi lồi lõm và chính giữa là một chiếc phi thuyền. Cả một khung cảnh thật khích động. Tôi nao nao nhớ đến cách nay năm năm, những bước chân đầu tiên của con người đã đặt lên nguyệt cầu. Thật thần tiên và cũng thật tàn nhẫn. Thần tiên vì đó là sự thực hiện giấc mơ của người địa cầu: thăm quê hương của chị Hằng. Nhưng cũng thật tàn nhẫn vì từ đó bao nhiêu huyền thoại đã sụp đổ. Trẻ con từ đó không còn tin chuyện cây đa, chú Cuội, chị Hằng, thỏ ngọc trên cung trăng. Mảnh trăng vàng không còn là một cái gì thơ mộng, bí ẩn nữa.

Tiến quay lại, khoe:
- Đẹp không chị?
- Đẹp.
Tiến hớn hở nói:
- Đây là chiếc nguyệt xa do em sáng chế.
Tôi giật mình, rồi cười xòa:
- Kiểu năm nào đây?
- Năm 1984.
Tôi bắt đầu tham dự vào trò chơi của Tiến:
- Tại sao không phải là năm nay?
- Năm nay em mới có mười tuổi, chưa làm phi hành gia được.
- Ghê dữ vậy? Đợi tới hai mươi tuổi làm phi hành gia trẻ nhất thế giới à?
Tiến cười thích thú, và cúi xuống vẽ thêm cái bóng của chiếc nguyệt xa in trên mặt đất lởm chởm.

Tôi không còn hứng để viết nữa, lặng yên ngắm bức họa của Tiến, chợt nghe một nỗi gì, như là tiếc, hay thương, hay bâng khuâng… làm lòng mình chùng xuống. Mùa thu! Ừ, mùa thu đã đến từ lâu rồi. Giản dị và gọn gàng biết bao! Mùa thu ở Sài Gòn không có gió heo may mà chỉ có nắng gắt làm toát mồ hôi. Không có lá thu rụng mà chỉ có những đốm hoa phượng tả tơi còn sót lại trên cành cây xanh lá. Ôi mùa thu! Vô vị và lặng lẽ thế nào! Bao nhiêu lần Trung thu đã đến và các em tôi lớn dần. Mỗi lần phố xá có một tí màu sặc sỡ vì những chiếc lồng đèn và xóm nhỏ có một tí lửa đèn cầy bé nhỏ lung linh về đêm, là tôi nhớ đến ngày hai con người đầu tiên bước chân lên mặt trăng (*). Rồi thôi, tôi lại quên ngay sau đó. Nhưng hiện giờ, Tiến đang gợi lại. Tôi biết trong cái khô gọn của đời sống, bao nhiêu ước mơ đã tự nó ươm mầm. Trong cái lặng lẽ của ngày tháng, một chút gì rực rỡ vẫn tiềm tàng. Nhìn Tiến vẽ mơ ước của mình ra trang giấy, tôi nghĩ đến đường biểu diễn mơ ước của con người theo thời gian. Ai lại chẳng thế, phải không? Thuở lên năm có những ý nghĩ vĩ đại, khi lớn dần thì ước mơ lại nhỏ dần. Một sự biến thiên nghịch chiều? Tôi cũng vậy, nhưng hy vọng có nhiều cái ngoại lệ. Ồ, nghĩ vẩn vơ quá đi! Hãy nhìn kìa, cái lá cờ Việt Nam đã bay phất phới một cách rất nặng nề bên cạnh chiếc nguyệt xa.

***

- E… í… e… í… ò! Dang ra! Xê ra!
Ai cũng giật mình. Nhưng Má đã hiểu ra trước. Má cười:
- Rồi! Lại choàng khăn, lại trùm mền nữa rồi!
Quả thật không sai. Thạnh xuất hiện ở cửa phòng, làm ai cũng bật cười. Trên đầu quấn một tấm vải hoa, giắt một cây trâm vàng, người choàng một tấm mền nhỏ. Thạnh để ngón tay trỏ lên má, chạy một vòng biểu diễn. Tôi kêu lên:
- Thạnh, sao cứ giả gái hoài vậy?
- Em đóng “Hồ Quảng” mà!
- Trời!
Tôi không thể nào nhịn cười được. Tiến thì bực mình gắt gỏng:
- Nè, sắp nhập học rồi, sao không chịu ôn bài? Mi mà học dở quá cô đuổi ra, cho đi học trường tư ráng chịu.
- Không sợ! Học trường tư cũng được. Thạnh tha hồ mặc áo đẹp. Có anh Tiến mới sợ, nghe má dọa hễ thi rớt thì bắt đi học trường tư phải mặc áo chim cò…
- Rồi sao?
- Rồi… rồi hoảng hồn phải thi đậu vào lớp đệ thất (**), ha ha….
- Trời ơi! Nói vậy mà cũng nói. Người ta đậu là vì người ta học giỏi.
- Kệ anh Tiến. Thạnh cũng học giỏi vậy. Nhưng Thạnh cũng thích hát Hồ Quảng nữa. Nè, nghe đây… dang ra… xê ra! E í e í… ò… Như ta đây là….
Tiến vùng vằng tức tối cầm sách vở chạy đi. Còn lại cu Thạnh lúc này đã leo lên giường, một mình thủ nhiều vai. Giọng của Thạnh trong trẻo và gương mặt mũm mĩm trắng hồng khiến không ai có thể giận Thạnh được.
- Bây giờ em đóng vai Na Tra nghen! Lúc này Na Tra đang hiện hồn về nghen! Bớ mẹ… con đã về đây… bớ… mẹ!....

***

alt

Tiến và Thạnh khác nhau một trời một vực. Tiến ít nói, Thạnh líu lo như chim. Tiến thích ngồi một mình xem sách hoặc vẽ, Thạnh ưa có đông người để cho cu cậu góp chuyện. Tiến mê Sử ký, Địa lý, Toán và … Thiên văn, Thạnh khoái xem kịch và… cải lương Hồ Quảng. Tiến thích mặc áo trắng quần xanh để đi học trường công, Thạnh khoái có khăn áo rườm rà để… đóng tuồng.

Tôi gọi Thạnh:
- Thạnh nè! Mình là con trai, đi học trường con trai, mà cứ yểu điệu như vậy người ta đuổi qua trường con gái đấy!
Thạnh tháo chiếc khăn xuống, nhoẻn miệng cười:
- Em chơi một tí thôi. Bữa nào đi học, em lại học đàng hoàng.
- Giỏi lắm! Học rồi lớn lên Thạnh sẽ làm gì nào?
- Làm nghề gì hở chị?
- Ừ. Chẳng hạn như anh Tiến đó, anh ấy mơ làm phi hành gia để lên mặt trăng. Còn Thạnh?
- Em cũng mơ lên mặt trăng.
- Thật không?
- Thật chứ! Em sẽ đi đua cùng với anh Tiến.

***

Thạnh đã lên mặt trăng trước Tiến. Một cuộc so tài thầm lặng! Tiến còn chờ ngày hai mươi tuổi. Nhưng cu Thạnh thì chỉ cần đội lên đầu một cái vương miện bằng giấy, khoác một tấm chăn, và nhún chân một cái… Xoèng! Tiếng chiêng trống giả bằng miệng đã nổi lên. Và… “Đường Minh Hoàng tí hon” đang đứng trên… cung Quảng. Thật là huyền diệu! Thật là thơ mộng! Trung Thu chưa đến, nhưng tôi nghe xung quanh mình nhiều tiếng trống múa lân như đã vang dội. A! Ít ra trong cái khô gọn của đời sống, của thời đại nguyên tử, vẫn còn có những phút giây hay hay như thế. Tôi vỗ tay khen ngợi Thạnh. Thạnh đang bước trên mặt đất quê hương chị Hằng – làm bằng mền và gối. Thật êm ái, không âm u lạnh lẽo như mặt đất cung trăng mà Tiến đã vẽ, như những phi hành gia đã thấy.

Tiến tức lắm. Dù không ghét những trò chơi của Thạnh, nhưng để tỏ ra “ta là người lớn”, Tiến bỏ đi ra sân nhà.

***

Đêm đã xuống thật bình yên. Ở đây mùa thu không vui, không thơ mộng, nhưng Tiến không phải nghe súng bắn hay bom nổ như ở nhiều nơi mà Tiến biết qua sách Địa dư, qua tin thời sự. Tiến dõi mắt nhìn lên trời. Tiến đã thấy trăng ở sau mây. Khích động quá, cái mảnh tròn và sáng rực đó. Từ lúc năm tuổi đến nay Tiến đã vẽ biết bao nhiêu chiếc phi thuyền. Trái mơ chưa chín. Nhưng Tiến sẽ lên đó, cắm một ngọn cờ, nhặt vài mẩu đá, và… và làm gì nữa nhỉ?

- Cho Tiến này!
Tiến ngạc nhiên, rồi sáng đôi mắt lên. Một mẩu đá trong tay chị. Tiến nắm lấy, thắc mắc:
- Đá gì đây, chị?
- Đố Tiến biết.
- Đá mặt trăng, phải không?
- Sai rồi! Đá ở núi Châu Thới, chị nhặt và giữ mấy năm nay. Cho Tiến đó!
Tiến băn khoăn chưa hiểu. Tôi xoa đầu em, nói:
- Tiến biết không, đá này hay hơn đá mặt trăng nhiều. Vì đá mặt trăng được mang về nghiên cứu, nếu có những gì quý giá thì con người cũng khó lòng mà đạt được, vì nó xa xôi quá. Còn đất đá lấy từ nước non mình, đáng được nghiên cứu hơn hết, vì…
Tôi không biết nói sao cho đủ ý. Tiến mới có mười tuổi. Hãy để cho em nuôi trái mơ. Tôi thật bậy khi phá quấy những ý tưởng của em. Nhưng Tiến đã cười, và em tiếp lời tôi:
- Em hiểu rồi! Vì trong đất đá có những giọt dầu hỏa. Em nghe người ta nói vậy, đúng không chị? Nếu biết trong đất đá nước mình có những giọt dầu hỏa, mình sẽ dễ tìm kiếm hơn là tìm kiếm một thứ gì trên mặt trăng, phải không chị?
- Ừ!
Tôi lặng im, và nghe gió thu mát rượi cả lòng. Tiến không còn nhìn mặt trăng nữa, mà say sưa ngắm mẩu đá. Em ơi! Quê hương ta chưa cần có một chiếc phi thuyền, nhưng đang cần rất nhiều dụng cụ, nhiều nhân lực để tìm dầu hỏa. Rồi em sẽ lớn. Rồi các em sẽ lớn nhé! Những ước mơ của chúng ta chắc chắn sẽ nhỏ dần theo ngày tháng – nhưng đến một điểm nào thôi, rồi sẽ ngừng lại, và tiếp tục. Ở đó, giấc mơ thành sự thật. Tiến hiểu gì không?

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh


Bán nguyệt san Tuổi Hoa, số 227, số Trung Thu, ngày 1-10-1974

tuoihoa.hatnang.com

----------------------------------------------------------------------------------
(*) Ngày 20 tháng 7 năm 1969, phi thuyền Apollo 11 mang những con người đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng.

(**) Hệ thống trung học trước năm 1970: Lớp Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ, Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất: tương đương với lớp Sáu, Bảy, Tám, Chín, Mười, Mười Một, Mười Hai.